Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải)
Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi. Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. (Phạm Tiến Duật, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, ngữ văn 9 tập 1. NXB Giáo dục Việt Nam. 2016, tr 129) Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về hai đoạn thơ trên. ---------HẾT--------- De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com ĐÁP ÁN I. Phần đọc hiểu: (3,0 điểm) Câu 1: (0,5 điểm) Phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên: Nghị luận Câu 2: (0,5 điểm) Đặt một nhan đề phù hợp cho ngữ liệu: Âm nhạc là điều tuyệt vời của cuộc sống. Câu 3: (1,0 điểm) Hai phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu: - Phép lặp: âm nhạc là - Phép thế: "nó" = "âm nhạc" Câu 4: (1,0 điểm) Biện pháp tu từ từ vựng trong câu: nhân hóa Tác dụng: làm câu văn gợi cảm xúc, nhấn mạnh rằng âm nhạc là người bạn đồng hành cùng chúng ta II. Phần tập làm văn (7,0 điểm) Câu 1: (2,0 điểm) I. Mở đoạn: - Giới thiệu vấn đề nghị luận: tinh thần lạc quan trong cuộc sống II. Thân đoạn: Bàn luận về tinh thần lạc quan 1. Lạc quan là gì? - Lạc quan là thái độ sống - Lạc quan là luôn vui tươi, vui cười dù có bất kì chuyện gì xảy ra - Lạc quan như là một liều thuốc bổ cho cuộc sống tươi đẹp hơn. 2. Ý nghĩa của tinh thần lạc quan - Lạc quan sẽ tạo nên cuộc sống tươi đẹp cho tất cả mọi người - Giúp chúng ta biết sống một cách có ý nghĩa hơn - Giúp con người tránh khỏi những hiểm họa trong cuộc sống - Những người lạc quan thường thành công trong cuộc sống và công việc 4. Biểu hiện của tinh thần lạc quan - Luôn tươi cười dù có chuyện gì xảy ra - Luôn yêu đời - Luôn bình tĩnh xử lí mọi tình huống dù có chuyện gì xảy ra 3. Một số tấm gương về tinh thần lạc quan - Bác Hồ ở trong tù vẫn có thể sáng tác thơ, ngắm trăng - Các bệnh nhân ung thư vẫn lạc quan để chiến đấu bệnh tật để giành giật sự sống - Các em bé mồ côi vẫn lạc quan sống để mong ngày gặp lại cha mẹ của mình De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com III. Kết thúc vấn đề Nêu cảm nghĩ của em về tinh thần lạc quan: - Đây là một tinh thần rất tốt, giúp con người vượt qua số phận - Bên cạnh đó nó còn có những tác động xấu khi con người có tinh thần lạc quan thái quá. Câu 2: (5 điểm) I. Mở bài - Dẫn dắt: Hình ảnh người lính là đề tài trung tâm và là niềm cảm hứng bất tận của văn học cách mạng Việt Nam. Qua mỗi thời kỳ, người chiến sĩ lại mang những vẻ đẹp riêng biệt nhưng đều chung một lý tưởng cứu nước. - Giới thiệu hai đoạn thơ: Đoạn cuối bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu khắc họa tình đồng đội keo sơn thời kháng chiến chống Pháp. Khổ đầu "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật lại làm nổi bật tư thế ung dung, hiên ngang của người lính lái xe thời đánh Mỹ. II. Thân bài 1. Đoạn thơ trong bài "Đồng chí" - Tình đồng đội và biểu tượng hòa bình - Hoàn cảnh khắc nghiệt: "Rừng hoang sương muối". Đây là hình ảnh thực về sự khắc nghiệt của thiên nhiên chiến khu Việt Bắc. Sương muối buốt giá như cắt da cắt thịt, thử thách ý chí và sức chịu đựng của con người. - Tình đồng chí gắn kết: "Đứng cạnh bên nhau". Giữa cái lạnh thấu xương, những người lính không hề cô độc. Họ đứng sát bên nhau, truyền cho nhau hơi ấm, sự tự tin để "chờ giặc tới". Từ "chờ" cho thấy tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu. + Hình ảnh biểu tượng "Đầu súng trăng treo": * Đây là hình ảnh mang tính nhãn tự của bài thơ. "Súng" và "Trăng" là sự kết hợp giữa thực tại và lãng mạn, giữa chiến tranh và hòa bình, giữa chiến sĩ và thi sĩ. + Cây súng tượng trưng cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vầng trăng tượng trưng cho vẻ đẹp thanh bình của quê hương. Sự hòa quyện này khẳng định tâm hồn cao đẹp của người lính: cầm súng chiến đấu để gìn giữ những mùa trăng hòa bình cho dân tộc. 2. Đoạn thơ trong "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" - Tư thế hiên ngang và tinh thần lạc quan - Hình ảnh chiếc xe độc đáo: "Không có kính không phải xe không có kính". Điệp từ "không" và cách giải thích dân dã, hóm hỉnh cho thấy sự khốc liệt của chiến trường: "Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi". Phạm Tiến Duật đã đưa cái trần trụi của chiến tranh vào thơ một cách tự nhiên. - Tư thế ung dung của người lính: * Đảo ngữ "Ung dung buồng lái ta ngồi" nhấn mạnh sự bình thản, điềm tĩnh đến lạ lùng của người chiến sĩ giữa mưa bom bão đạn. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com - Cái nhìn "Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng": Nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ thể hiện sự tập trung cao độ và bản lĩnh kiên cường. "Nhìn thẳng" là nhìn vào gian khổ, nhìn vào kẻ thù và nhìn về phía con đường giải phóng miền Nam phía trước. + Tâm hồn trẻ trung: Khác với sự trầm lắng của người lính thời Pháp, người lính thời Mỹ mang vẻ đẹp ngang tàng, trẻ trung và vô cùng lạc quan. 3. So sánh và đánh giá chung - Điểm giống nhau: Cả hai thế hệ người lính đều có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm, coi thường gian khổ và luôn có sự gắn kết đồng đội chặt chẽ. - Điểm khác biệt: + Người lính thời Pháp (Chính Hữu): Hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, tình cảm trầm lắng, sâu nặng. Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh biểu tượng. + Người lính thời Mỹ (Phạm Tiến Duật): Mang dáng vẻ hiện đại, trẻ trung, tinh nghịch và sôi nổi. Ngôn ngữ thơ gần với văn xuôi, giọng điệu ngang tàng, khỏe khoắn. III. Kết bài + Khẳng định giá trị: Hai đoạn thơ là hai bức tượng đài bằng ngôn từ khắc họa chân dung người lính qua hai thời kỳ lịch sử. + Cảm xúc cá nhân: Đọc những vần thơ này, thế hệ trẻ hôm nay thêm trân trọng cuộc sống hòa bình và biết ơn sự hy sinh của cha ông. Đó chính là nguồn cảm hứng để chúng ta tiếp bước trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 8 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT THỪA THIÊN HUẾ NĂM HỌC 2018 - 2019 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. Phần đọc hiểu: (3,0 điểm) Đọc kĩ ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi nêu bên dưới: “Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm bắt thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội, Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp.” Phương Liên, Thời gian là vàng, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.36) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên. Câu 2: (0,5 điểm) Nêu ngắn gọn nội dung của ngữ liệu. Câu 3: (4,0 điểm) Xét về cấu tạo, cậu “Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội.” là kiểu câu gì? Vì sao? Câu 4: (1,0 điểm) Ngữ liệu trên chuyển tải thông điệp gì? II. Phần Tập làm văn: (7,0 điểm) Câu 1: (3,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (không qua một trang giấy thi) theo cách diễn dịch bàn về ý nghĩa của tuổi thơ đối với mỗi người. Câu 2: (4,0 điểm) Cảm nhận của em về vẻ đẹp của hai nhân vật: Anh Sáu trong tác phẩm Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) và anh thanh niên trong tác phẩm Lặng Lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long) ---------HẾT--------- De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com ĐÁP ÁN I. Phần Đọc hiểu (3,0 điểm) Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Câu 2 (0,5 điểm): Nội dung của ngữ liệu: Khẳng định giá trị vô giá của thời gian trên nhiều phương diện (sự sống, thắng lợi, tiền bạc, tri thức) và khuyên con người phải biết trân trọng, tận dụng thời gian. Câu 3 (1,0 điểm): - Kiểu câu: Câu ghép. + Vì sao: Câu gồm hai cụm Chủ - Vị (C-V) không bao chứa nhau, nối với nhau bằng cặp quan hệ từ "Nếu... thì..." (giả thiết - kết quả). Vế 1: (chúng ta) / biết tận dụng thời gian. Vế 2: (chúng ta) / làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Câu 4 (1,0 điểm): Thông điệp: Thời gian một đi không trở lại và là tài sản quý giá nhất của mỗi người. Hãy sống chủ động, làm việc có kế hoạch để không lãng phí thời gian, tránh để lại sự hối tiếc về sau. II. Phần Tập làm văn (7,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm): Bàn về ý nghĩa của tuổi thơ đối với mỗi người *Yêu cầu hình thức: Đoạn văn diễn dịch (câu chủ đề đứng đầu), dung lượng khoảng 2/3 đến 1 trang giấy thi. *Gợi ý nội dung: - Câu chủ đề: Tuổi thơ đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là nền tảng hình thành nên nhân cách và là bến đỗ bình yên trong tâm hồn mỗi con người. - Triển khai ý: + Tuổi thơ là khoảng thời gian chúng ta được sống trong sự bao bọc, yêu thương của gia đình, giúp ta cảm nhận được giá trị của tình thân. + Những trải nghiệm đầu đời, những bài học đạo đức đầu tiên từ cha mẹ, thầy cô chính là "viên gạch" đặt nền móng cho cách ứng xử và quan điểm sống sau này. + Tuổi thơ còn là "chiếc túi thần kì" lưu giữ những kỉ niệm trong trẻo, hồn nhiên; là điểm tựa tinh thần vững chãi giúp con người vượt qua những áp lực, sóng gió khi trưởng thành. + Một tuổi thơ hạnh phúc sẽ nuôi dưỡng một tâm hồn nhân hậu; ngược lại, những thiếu thốn về tình cảm thuở nhỏ có thể để lại những vết sẹo tâm lí khó mờ. - Kết đoạn: Vì vậy, hãy trân trọng tuổi thơ của chính mình và cùng nhau xây dựng một môi trường lành mạnh cho trẻ em hôm nay. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com Câu 2 (4,0 điểm): Vẻ đẹp của nhân vật ông Sáu và anh thanh niên Dàn ý cảm nhận: 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Quang Sáng với Chiếc lược ngà và Nguyễn Thành Long với Lặng lẽ Sa Pa. - Khái quát vẻ đẹp: Cả hai nhân vật đều đại diện cho vẻ đẹp của con người Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến và xây dựng đất nước với tình cảm gia đình sâu nặng và lí tưởng sống cao đẹp. 2. Thân bài: - Nhân vật ông Sáu (Vẻ đẹp của tình phụ tử thiêng liêng): - Tình yêu con mãnh liệt: Sau 8 năm xa cách, nỗi khao khát được gặp con, nghe con gọi một tiếng "Ba" luôn thường trực. Dù bị con cự tuyệt, ông vẫn kiên nhẫn và đau đớn đến xót xa. - Sự tỉ mẩn, yêu thương gửi vào kỷ vật: Ở chiến khu, ông dồn tất cả tình cảm vào việc làm chiếc lược ngà. Từng răng lược được cưa cẩn thận, từng dòng chữ khắc "Yêu nhớ tặng Thu con của ba" là minh chứng cho tình cha bất tử. - Sự hi sinh: Đến giây phút cuối đời, ông vẫn chỉ nhớ đến con, trao lại chiếc lược cho bạn để gửi về cho bé Thu. - Nhân vật anh thanh niên (Vẻ đẹp của lí tưởng và sự cống hiến thầm lặng): - Ý thức trách nhiệm cao: Làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m nhưng anh luôn tự giác, tận tâm với công việc khí tượng "đo gió, đo mưa". *Quan niệm sống đẹp: Anh không thấy cô độc vì yêu công việc và coi "ta với công việc là đôi". Anh biết tạo ra niềm vui qua việc trồng hoa, nuôi gà và đọc sách. - Sự khiêm tốn và hiếu khách: Anh niềm nở đón khách, tặng quà và luôn từ chối viết về mình để giới thiệu những người khác xứng đáng hơn. - Điểm gặp gỡ giữa hai nhân vật: + Cả hai đều có tinh thần trách nhiệm với đất nước (ông Sáu đi kháng chiến, anh thanh niên làm việc ở nơi gian khó). + Họ đều có tâm hồn nhạy cảm, ấm áp và luôn hướng về những giá trị tốt đẹp. 3. Kết bài: + Khẳng định lại giá trị của hai tác phẩm qua việc xây dựng nhân vật. + Vẻ đẹp của ông Sáu và anh thanh niên đã trở thành biểu tượng cho các thế hệ cha anh, khơi gợi lòng biết ơn và lí tưởng sống cho thế hệ trẻ ngày nay. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 9 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT THỪA THIÊN HUẾ NĂM HỌC 2017 - 2018 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. Phần Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc kĩ ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới: “Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chúng ta gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã hiểu hết, hiểu hết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải chúng ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm. Tiếng nói của con người dùng để làm gì nếu không phải để thổ lộ, để giãi bày, để xoa dịu. Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị, với em, với bạn bè... Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook của nhau, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên, thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “ ơi!” dịu dàng!”. (Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, tr.48-49) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên. Câu 2: (0,5 điểm) Xét về cấu tạo, câu văn thứ hai trong ngữ liệu thuộc kiểu câu gì? Vì sao? Câu 3: (0,5 điểm) Chỉ ra 02 phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu. Câu 4: (1,0 điểm) Theo em, qua ngữ liệu trên, nhà văn muốn nhắn gửi đến chúng ta điều gì? (Học sinh trả lời không quá 5 dòng). II. Phần Tập làm văn: (7,0 điểm) Câu 1: (3,0 điểm) Trong bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, Phó thủ tướng Vũ Khoan cho rằng: “[ ] khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ tới – [ ] quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.” (Dẫn theo Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.28) Từ ý nghĩa của những lời nói trên, em hãy viết một đoạn văn nghị luận (dài không quá một trang giấy thi), bàn về một thói quen tốt đẹp mà mỗi học sinh cần có trong hành trang của mình. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com Câu 2: (4,0 điểm) 2.1 Ghi lại theo trí nhớ khổ thơ đầu bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) và khổ thơ đầu bài thơ Sang thu (Hữu Thỉnh). 2.2 Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về hai khổ thơ vừa ghi. ---------HẾT--------- De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thừa Thiên Huế (Có lời giải) - De-Thi.com ĐÁP ÁN I. Phần Đọc hiểu Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên là phương thức nghị luận. Câu 2: Xét về cấu tạo, câu văn thứ hai trong ngữ liệu thuộc kiểu câu ghép. Vì có nhiều hơn 2 cụm C – V và không bao chứa nhau: Chúng ta (C) gặp nhau qua YM, tin nhắn (V), chúng ta (C) đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày (V), chúng ta (C) những tưởng đã hiểu hết, hiểu hết về nhau mà không cần thốt lên lời (V). Câu 3: 2 phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu là: - Phép lặp - Phép liệt kê Câu 4: Qua ngữ liệu trên, nhà văn muốn nhắn gửi đến chúng ta rằng con người hãy quan tâm, gần gũi với nhau hơn, không nên quá lạm dụng và ỷ lại công nghệ, hãy giao tiếp, nói và chia sẻ với nhau để hiểu nhau nhiều hơn. (Học sinh dựa vào ý chính này để tự triển khai theo ý hiểu). II. Phần Tập làm văn Câu 1: Các em có thể lựa chọn một thói quen tốt đẹp bất kì nào cần có của một học sinh để nghị luận. (Giữ gìn vệ sinh trường lớp, đọc sách, giúp đỡ bạn bè, lễ phép với cha mẹ và thầy cô giáo, ...) * Tham khảo dàn ý về thói quen giữ gìn vệ sinh trường lớp: 1. Mở bài: - Con người khác với loài vật ở đặc điểm là biết giữ gìn vệ sinh không gian sống để bảo vệ sức khỏe, tránh được bệnh tật, tạo nên môi trường sống trong sạch, lành mạnh. - Một trong những thói quen cần có ở mỗi học sinh là phải biết giữ gìn vệ sinh trường lớp. Một hành động nhỏ nhưng có ý nghĩa to lớn đối với tập thể và cộng đồng. 2. Thân bài: a) Giữ gìn vệ sinh trường lớp là gì? - Giữ gìn vệ sinh trường lớp là hành động giữ gìn và bảo vệ không gian trường học, lớp học, không để bị nhiễm bẩn, mất vệ sinh hay ô nhiễm bởi rác thải, chất thải, vi khuẩn độc hại, b) Vì sao phải biết giữ gìn vệ sinh trường lớp? - Trường học, lớp học là nơi học sinh học tập và vui chơi. Đây là không gian chung, tập trung nhiều học sinh nên dễ bị mất vệ sinh bởi rác thải, chất thải do thức ăn và đồ đựng thức ăn của học sinh. Nếu trường học, lớp học mất vệ sinh dễ gây ra bệnh cho số đông học sinh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập. - Vì đây là không gian chung nên cần phải có ý thức giữ gìn vệ sinh thật tốt. Mỗi hành vi xả rác, bỏ rác không đúng nơi quy định đều đáng bị phê bình, khiển trách. De-Thi.com
File đính kèm:
bo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_tinh_thua_thien_hue_co_loi_g.docx

