Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải)

docx 52 trang Hạnh Phúc 14/03/2026 10
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải)

Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải)
 Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
thuốc thang lễ bái Thần Phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn. Song bệnh tình mỗi ngày một 
trầm trọng, bà biết không sống được, bèn trối lại với nàng rằng:
- Ngắn dài có sổ, tươi héo bởi trời. (..) Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, 
con cháu đông dàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.
Bà cụ nói xong thì mất. Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ 
mình"
 (Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyên Dù, 
 SGK Ngữ văn 9 - Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam – 2017)
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 HƯỚNG DẪN CHẤM
PHẦN 1. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1: 
Đoạn thơ trích trong tác phẩm “Nói với con” của tác giả Y Phương.
Câu 2:
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
Câu 3:
Người đồng mình: người vùng mình, người miền mình. Đây có thể hiểu cụ thể là những người sống trên 
một miền đất, cùng quê hương, cùng một dân tộc.
Câu 4:
Trong đoạn thơ, tác giả đã nói đến những phẩm chất của “Người đồng mình": ý chí, nghị lực phi thường, 
tự lực, tự cường xây dựng và tự hào về quê hương.
Câu 5:
Từ những phẩm chất của “Người đồng mình", người cha mong muốn và dặn dò con: Niềm tự hào về vẻ 
đẹp của quê hương để từ đó, cha nhắc con phải sống xứng danh người đồng mình luôn mang trong tim 
hành trang là tình yêu và niềm tự hào về quê hương, để tự tin vững bước trên đường đời. Dù cuộc sống 
còn nhiều khó khăn nhưng con không được bé nhỏ, tầm thường, lời cha dặn con vừa nghiêm khắc vừa 
chứa chan tình yêu và tràn đầy niềm tin tưởng.
PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. 
1. Giới thiệu vấn đề
2. Giải thích vấn đề
- Sáng tạo là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái 
mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có.
- Sáng tạo có giá trị to lớn trong cuộc sống.
3. Bàn luận vấn đề
- Tại sao chúng ta cần sáng tạo?
+ Cuộc sống không ngừng đổi thay đòi hỏi mỗi người phải liên tục phát triển để thích nghi. Hoàn cảnh 
đổi thay đó buộc chúng ta phải tạo ra những giá trị mới.
+ Sáng tạo phản ánh một quá trình học tập, tích lũy của cá nhân
+ 
- Giá trị của sự sáng tạo:
+ Sáng tạo tạo ra những giá trị mới, phục vụ cuộc sống của con người
+ Sáng tạo thúc đẩy sự phát triển của xã hội
+ Sáng tạo còn thúc đẩy tư duy của bản thân.
+ 
- Làm sao để rèn luyện sự sáng tạo?
+ Luôn say mê tìm tòi, nghiên cứu qua sách vở, thực tế để tích lũy tri thức.
+ Tự chủ, năng động trong học tập, lao động
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
- Phê phán những người lười suy nghĩ, chỉ thích những thứ sẵn có, đi theo lối mòn.
Câu 2. 
1. Giới thiệu chung
- Nguyễn Dữ (khoảng thế kỉ XVI) quê Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Thời đại nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền bình, nội chiến liên 
miên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.
- Con người
+ Nổi tiếng học rộng, tài cao.
+ Chỉ làm quan một năm rồi lui về sống ẩn dật ở miền núi Thanh Hóa.
+ Sưu tầm truyện dân gian để sáng tác “Truyền kì Mạn Lục".
Tác phẩm:
- Là truyện thứ 16 trong tổng số 20 ện của “Truyền kì Mạn Lục"
- Lấy nguồn gốc từ một truyện cổ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương”
- Đoạn trích kể việc việc lời dặn dò của Vũ Nương với chồng trước khi chồng đi lính và sự chăm sóc tận 
tình của Vũ Nương với mẹ chồng.
2. Phân tích đoạn trích
Giới thiệu nhân vật Vũ Nương
- Nhan sắc xinh đẹp.
Phẩm chất đẹp đẽ, cao quý.
⇒ Mang vẻ đẹp toàn vẹn nhất của người phụ nữ xã hội phong kiến
2.1 Vũ Nương là người yêu thương chồng
- Khi chồng ở nhà hiểu tính chồng hay ghen tuông với vợ phòng ngừa, Vũ Nương hết mực giữ gìn khuôn 
phép, cuộc sống vợ chồng chưa từng xảy ra bất hòa. 
- Khi tiễn chồng đi chinh chiến:
+ Rót chén rượu đầy, nói lời ngọt ngào nồng đượm tình yêu thủy chung
+ Bày tỏ mong ước lớn lao: cuộc sống gia đình yên ấm, mong chồng được bình yên trở về.
+ Xót thương, cảm thông cho những vất vả, hiểm nguy mà chồng sẽ phải chịu đựng.
+ Bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ mong da diết của mình với chồng
2.2 Vũ Nương là người con dâu hiếu thảo, đảm đang.
- Đảm đang (khi chồng đi lính):
+ Một mình gánh vác gia đình.
+ Chăm sóc mẹ chồng già yêu
+ Nuôi dạy con thơ.
- Hiếu thảo (khi mẹ chồng ốm):
+ Nàng hết lòng chăm sóc như với cha mẹ đẻ của mình (cơm cháo, thuốc thang, an ủi...) 
+ Lễ bái thần phật cầu cho bà tai qua, nạn khỏi. 
+ Lời trăng trối của bà trước khi mất đã khẳng định lòng hiếu thả định lòng hiếu thảo, tình cảm chân 
thành của Vũ Nương (phút lâm chung bà cảm tạ công lao của nàng → mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu 
của xã hội phong kiến xưa thường chỉ mang tính chất ràng buộc của lễ giáo phong kiến. Những lời cảm tạ 
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
của bà mẹ đã cho thấy Vũ Nương yêu thương bà thực lòng nên bà cũng yêu quý, biết ơn nàng thực lòng 
như vậy) 
+ Bà mất: nàng lo tang ma chu đáo.
3. Tổng kết
Nội dung: Đoạn văn ngắn những làm sáng lên vẻ đẹp phẩm chất của Vũ Nương: yêu thương chồng, là 
người con dâu hiếu thảo, đảm đang.
- Nghệ thuật: sử dụng nhiều điển tích, ngôn từ cổ kính, giàu giá trị biểu đạt,...
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 8
 ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 NĂM HỌC 2018-2019
 THÁI BÌNH
 MÔN: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
Phần 1. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
“Mỉm cười là một trạng thái tinh thần đặc biệt. 
Khác với bản thân cái cười. Cái cười cần và phải có đối tượng rõ ràng. Không có người ta bảo mình “có 
vấn đề rồi”.
Mỉm cười đến từ xa xôi, xa xôi đến mức có vẻ như mỉm cười là tự thân. Mỉm cười là trạng thái trong 
lành, thân thiện dang tay vui đón vũ trụ, hoà vui cuộc đời. Như tia nắng xuân mềm mại, mỏng manh, rụt 
rè, vô tư lự hé chào khu vườn cuối đông.
[...] Thật là vui khi nhìn thấy cái mỉm cười ở trong cái cười của ai đó, của những người bạn của mình.
Chúc mỗi bạn bè ta, mỗi sáng trước khi ra cửa, mỉm cười.”
 (Theo Hoàng Hồng Minh, Lòng người mênh mang NXB Văn hóa thông tin, 2014)
Câu 1 (1 điểm). Kể trên 02 phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra phép liên kết giữa hai câu văn sau: "xa xôi đến mức có vẻ như mỉm cười là tự 
thân. Mỉm cười là trạng thái trong lành, thân thiện dang tay vui đón vũ trụ, hoà vui cuộc đời".
Câu 3. (0,5 điểm). Theo tác giả, tại sao "mỉm cười" khác với "cái cười"?
Câu 4 (1.0 điểm ) "Chúc bạn bè ta mỗi sáng trước khi ra cửa, mim cười". Câu nói trên cho em lời khuyên 
gì về thái độ sống?
Phần 2. LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM)
Câu 1. (3,0 điểm)
 Cần tôn trọng sự riêng tư của người khác.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 300 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Câu 2. (4,0 điểm) Cảm nhận về hình ảnh con người Việt Nam trong hai đoạn thơ sau:
 Thuyền ta lái gió với buồm trăng
 Lướt giữa mây cao với biển bằng
 Ra đậu dặm xa dò bụng biển
 Dàn đan thế trận lưới vây giăng
 (Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
 Ta làm con chim hót
 Ta làm một cành hoa
 Ta nhập vào hòa ca
 Một nổi trầm xao xuyến.
 (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9 Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2017)
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐÁP ÁN
Phần 1. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1: 2 phương thức biểu đạt chính là thuyết minh và nghị luận.
Câu 2: Phương pháp liên kết: phép lặp ("mỉm cười")
Câu 3: Theo tác giả thì mỉm cười là một trạng thái tinh thần đặc biệt và nó đến từ xa xôi đến mức có vẻ 
như mỉm cười là tự thân hay hiểu thành mỉm cười là do chính tự thân - một phản xạ tự nhiên của con 
người.
Còn cái cười lại cần phải có đối tượng rõ ràng cụ thể hay cái cười xảy ra khi có tác động của sự vật sự 
việc quanh ta.
Câu 4: "Chúc bạn bè ta, mỗi sáng trước khi ra cửa, mỉm cười" mang đến cho ta thông điệp: Hãy đón 
ngày mới bằng niềm vui, niềm tin và hạnh phúc, mỉm cười để bắt đầu một ngày thật tốt đẹp hơn.
Phần 2. LÀM VĂN (7,0 ĐIỂM)
Câu 1: Hướng dẫn
Thứ nhất: Khẳng định ý kiến trên là đúng, sau đó các em cần phân tích từng khía cạnh.
- Tôn trọng là sự đánh giá đúng mực, coi trọng danh dự, phẩm giá và lợi ích của người khác, thể hiện lối 
sống văn hóa của mỗi người.
- Sự riêng tư của người khác: chính là đời sống cá nhân, tỉnh cảm của người đó trong cuộc sống hàng 
ngày.
⇒ Khẳng định ý kiến: "Cần tôn trọng sự riêng tư của người khác" là vô cùng cần thiết. Là cách tốt nhất 
để duy trì quan hệ tốt đẹp trong xã hội
Câu 2: 
1. Mở bài: Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác. Giới thiệu, khái quát giá trị của đoạn thơ ( viết lại đoạn 
thơ)
+ Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá:
- Huy Cận là bút danh, họ tên là Cù Huy Cận. Thơ của ông dào dạt niềm vui, nhất là khi ông nói về cuộc 
sống mới, con người mới.
- Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" được Huy Cận viết năm 1958. Bài thơ miêu tả đoàn thuyền ra khơi đánh 
cá một đêm trăng tròn Hạ Long, qua đó ca ngợi biển quê hương giàu đẹp, người dân chài làm chủ cuộc 
đời, hăng say lao động, xây dựng cuộc sống mới ấm no hạnh phúc.
+ Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ:
- Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980) là bút danh của Phạm Bá Ngoãn. Ông là người có công lớn thắp sáng 
ngọn lửa thi ca cách mạng trong lòng miền Nam. Thơ của Thanh Hải có ngôn ngữ trong sáng, giàu âm 
điệu nhạc điệu, cảm xúc thiết tha, chân thành và lắng đọng.
- Bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" được Thanh Hải viết vào tháng 11 năm 1980, khi còn nằm trên giường 
bệnh, một tháng trước lúc qua đời. Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp và khí thế của đất nước vào xuân, thể hiện khát 
vọng và tình yêu thiết tha được trọn đời hiến dâng cho quê hương đất nước.
+ Nhận xét: Cả hai bài thơ đều miêu tả vẻ đẹp của con người Việt Nam đặc biệt là 2 đoạn thơ sau (trích 
dẫn thơ)
2. Thân bài
* Phân tích khổ thơ bài Đoàn thuyền đánh cá
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
- Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật đẹp.
 Thuyền ta lái gió với buồm trăng
 Lướt giữa mây cao với biển bằng
Hai tiếng “thuyền ta" vang lên một cách đầy kiêu hãnh, tự hào. Xa rồi những ngày áp bức, bóc lột làm 
thân nô lệ, làm kiếp ngựa trâu, bị coi như thứ tài sản, bị bóc lột đến kiệt quệ sức lao động. Ta có làm mà 
không được hưởng. Còn giờ đây, ta thực sự trở thành một công dân của đất nước. Ta được làm chủ đất 
nước, biển trời và làm chủ công việc của mình.
Trong không không khí hào hứng phấn khởi, say mê người ngư dân đưa con thuyền vào cuộc chinh phục 
mới. Bút pháp lãng mạn khoa trương đã biến con thuyền không phải chạy bằng động cơ máy móc mà 
bằng sức mạnh của tự nhiên. Con thuyền ấy có gió làm bánh lái, trăng làm buồm. Trong phút chốc, tầm 
vóc con thuyền trở lên lớn lao, kì vĩ sánh ngang cùng thiên nhiên vũ trụ. Hình ảnh con thuyền hay chính 
là con người lao động với tầm vóc cũng rất lớn lao.
Con thuyền ấy không phải đi trên mặt biển mà như "lướt" giữa không gian rộng với trời xanh bát ngát. 
Động từ "lướt" diễn tả đoàn thuyền không chỉ chạy nhanh mà còn rất nhẹ nhàng. Vẻ đẹp của con thuyền 
chính là vẻ đẹp của người lao động. Đoàn thuyền chạy nhanh diễn tả khí thế phơi phới của những con 
người lần đầu tiên làm chủ cuộc đời.
⇒ Họ không chỉ có sức mạnh mà tâm hồn họ còn vô cùng vui tươi phấn khởi. Hình ảnh con thuyền mang 
kích thước khổng lồ đang hòa nhập với thiên nhiên tạo nên một cảnh tượng kì vĩ. Dường như đây không 
phải là đoàn thuyền trong cuộc đánh bắt cá mà đang trong cuộc du ngoại giữa chốn bồng lai tiên cảnh.
Nếu hai câu thơ trên miêu tả bằng bút pháp tả thực thì hai câu dưới miêu tả bằng bút pháp hiện thực. 
Cảnh lao động trở về tính chất quyết liệt của nó:
 "Ra đầu dặm xa dò bụng biển
 Dàn đan thế trận lưới vây giăng"
Những người ngư dân với tâm hồn phơi phới đang làm chủ phương tiện của mình. Họ lái những con 
thuyền ra khơi đâu còn quẩn quanh đánh bắt ven bờ. Đâu còn những ngày chỉ có những trang thiết bị thô 
sơ thiếu thốn. Giờ đây họ đã có trong tay những trang thiết bị hiện đại để đánh bắt xa bờ. Với những 
phương tiện ấy, họ tự tin tìm đến những nơi xa để "dò bụng biển".
Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ đã biến lòng biển bao la trở thành "bụng biển". Nơi ấy chất chứa bao điều kì 
lạ, bí hiểm đòi hỏi sự khám phá của con người. Nơi ấy cũng chứa đựng tài nguyên khoáng sản để phục vụ 
cho công việc làm giàu đất nước.
Bằng một động từ mạnh được sử dụng liên tiếp nhà thơ đã giúp người đọc hình dung cảnh đánh bắt cá. 
Những ngư dân giờ bước vào cuộc chiến mới. Ở đó, ngư trường là chiến trường, ngư cụ là vũ khí, ngư 
dân là chiến sĩ. Tất cả trong tư thế hoàn toàn chủ động để dàn đan thế trận tấn công vào cuộc chinh phục 
thiên nhiên.
* Phân tích khổ thơ bài Mùa xuân nhỏ nhỏ
Tác giả không mơ giấc mơ vĩ đại, chẳng tưởng một viễn cảnh lạ kì, mà tâm hồn tác giả nguyện những 
ước mơ đơn sơ, bình dị:
 Ta làm con chim hót
 Ta làm một cành hoa
 Ta nhập vào hòa ca
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 Một nốt trầm xao xuyến.
Tác giả ước mơ được hi sinh, được cống hiến. Ước mơ cháy bỏng của tác giả sôi tràn nhiệt huyết, căng 
tràn nhựa hi sinh, thổi phồng lên một niềm tin bất diệt. Tác giả mơ ước nhưng chỉ nguyện “làm” một cành 
hoa, một con chim hót.
⇒ Tác giả như nguyện rằng mình sẽ làm, vâng sẽ làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa 
muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim. Một cành hoa, một tiếng chim để tô điểm cho phong cảnh mùa 
xuân tươi đẹp. Đó là ước nguyện lạ thường, không phải nó cao siêu vĩ đại mà tại nó gần gũi.
⇒ Mong muốn được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự 
phồn vinh của đất nước.
Tác giả nguyện sẽ cống hiến, cống hiến những gì đơn sơ, giản dị, nhưng lại có ích cho đời:
 Ta nhập vào hòa ca
 Mội nốt trầm xao xuyến
Tác giả không mơ được làm một cánh đại bàng lướt gió giữa trời xuân, không mơ được làm nốt nhạc vút 
cao trong dàn hòa ca bay bổng. Tác giả chỉ nguyện làm một tiếng chim hót, một nốt trầm nhưng xao 
xuyến lòng người.
⇒ Một ước mơ nho nhỏ, chân tình.
*Hình ảnh con người Việt Nam trong bài thơ:
Cả hai tác giả đều lấy những hình ảnh thiên nhiên với hình ảnh thơ lãng mạn, bay bổng để thể hiện hình 
ảnh niềm vui, sự nhịp nhàng cùng hòa nhập thiên nhiên. Qua đó tác giả cũng truyền đạt một thông điệp 
hình ảnh con người Việt Nam luôn cố gắng làm việc với ước mơ cống hiến một phần công sức cho sự 
phát triển của đất nước.
3. Kết bài:
Nêu cảm nhận chung của em về hai khổ thơ trên.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 9
 ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 NĂM HỌC 2016-2017
 THÁI BÌNH
 MÔN: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
Phần I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
 Việt Nam đất nắng chan hoà
 Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
 Mắt đen cô gái long lanh
 Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
 Đất trăm nghề của trăm vùng
 Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem
 Tay người như có phép tiên
 Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ.
 (Trích Bài thơ Hắc Hải - Nguyễn Đình Thi)
Câu 1. (0,5 điểm) Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. (1,0 điểm) Chỉ ra 02 hình ảnh về con người Việt Nam trong đoạn thơ trên.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp so sánh được sử dụng trong hai câu thơ “Tay người như có 
phép tiên - Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ”.
Câu 4. (0,5 điểm) Từ đoạn thơ trên, em cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp của đất nước và con người Việt 
Nam? (Viết khoảng 5 - 7 dòng)
Phần II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
 Câu 1. (3,0 điểm)
 Học mà chỉ ghi nhớ kiến thức một cách máy móc thì khó đạt hiệu quả.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 300 từ) bày tỏ suy nghĩ của em về ý kiến trên. 
Câu 2. (4,0 điểm)
Cảm nhận về hình tượng người lính trong đoạn thơ sau:
 Áo anh rách vai
 Quần tôi có vài mảnh vá
 Miệng cười buốt giá
 Chân không giày
 Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
 Đêm nay rừng hoang sương muối
 Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
 Đầu súng trăng treo.
 (Trích Đồng chí - Chính Hữu, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
 -- HẾT ---
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Thái Bình (Có lời giải) - De-Thi.com
 HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1. HS xác định đúng thể thơ lục bát được 0,5 điểm.
Câu 2. HS chỉ ra 02 hình ảnh về con người Việt Nam trong các hình ảnh sau: mắt đen cô gái long lanh; 
yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung; tay người như có phép tiên; trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ. Đúng 
mỗi hình ảnh được 0,5 điểm; có thể diễn đạt cách khác nhưng phải hợp lý.
Câu 3. HS nêu đúng tác dụng của biện pháp so sánh trong đoạn thơ, có thể diễn đạt khác nhưng phải hợp 
lý: gợi ra niềm tự hào về vẻ đẹp tài hoa của con người Việt Nam trong lao động; làm cho câu thơ sinh 
động, giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm...
Trả lời đúng mỗi ý được 0,5 điểm.
Câu 4. HS có thể nêu cảm nhận về hai đặc điểm sau: đất nước Việt Nam tươi đẹp, trù phú; con người 
Việt Nam thủy chung, tình nghĩa, khéo léo, tài hoa 
Trả lời đúng mỗi ý được 0,25 điểm.
Có thể diễn đạt khác nhưng phải cụ thể, rõ ràng, hợp lý. Không cho điểm với trường hợp chỉ viết chung 
chung hoặc trả lời không liên quan đến câu hỏi.
Phần II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn 
bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên 
kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Nội dung trình bày (1,75 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: mặt hạn chế của cách học chỉ ghi nhớ kiến thức một cách máy 
móc (0,25 điểm)
- Bày tỏ suy nghĩ về vấn đề cần nghị luận, kết hợp lý lẽ và dẫn chứng (1,25 điểm)
+ Học mà chỉ ghi nhớ kiến thức máy móc là cách học khó đạt hiệu quả vì: khiến ta nhanh quên do không 
hiểu bản chất, ý nghĩa của bài học; khó ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế; không rèn luyện được tư 
duy của người học...
+ Ngược lại, nếu biết vận dụng những phương pháp học tập tích cực, tăng cường khả năng suy luận, ta sẽ 
làm chủ được kiến thức của mình...
+ Tuy nhiên, cũng cần phân biệt cách học ghi nhớ máy móc với cách ghi nhớ chính xác, khoa học, tạo 
dựng nền tảng kiến thức vững chắc...
- Rút ra bài học cho bản thân. (0,25 điểm)
b) Hình thức trình bày (0,75 điểm)
- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận gồm 3 phần Mở bài, Thân bài, Kết bài (0,25 điểm)
- Lập luận chặt chẽ, mạch lạc (0,25 điểm)
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm)
c) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp 
luật (0,25 điểm)
 De-Thi.com

File đính kèm:

  • docxbo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_tinh_thai_binh_co_loi_giai.docx