Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải)

docx 70 trang Huy Hoàng 18/03/2026 10
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải)

Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải)
 Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
– Người có niềm tin vào bản thân dám khẳng định năng lực và phẩm chất của mình, coi đó là nguồn sức 
mạnh chân chính, có ý nghĩa quyết định;
– Niềm tin là nền tảng của mọi thành công: Để có được thành công, có cuộc sống tốt đẹp, con người phải 
biết dựa vào chính bản thân mình chứ không phải dựa vào ai khác, khách quan chỉ là điều kiện tác động, 
hỗ trợ chứ không phải là yếu tố quyết định thành công.
b) Biểu hiện của sức mạnh niềm tin trong cuộc đời
– Luôn lạc quan, yêu đời, không gục ngã trước bất kì khó khăn, thử thách nào.
– Có ý chí, nghị lực để đối mặt và vượt qua những khó khăn.
– Tỉnh táo để tìm những lời giải cho những bài toán mà cuộc sống đặt ra cho chúng ta. Không rối răm, 
mất niềm tin.
– Biết truyền niềm tin, niềm lạc quan cho người khác và cho cộng đồng.
c) Mở rộng
– Niềm tin là sức mạnh để vượt qua những thử thách nhưng không phải chỉ cần niềm tin là đủ. Niềm tin 
ấy phải dưa trên những thực lực thực tế. Tin vào điều gì đó trống rỗng sẽ càng làm chúng ta ảo tưởng vào 
bản thân mà thôi.
– Tự tin, khiêm tốn, cẩn trọng là những đức tính đáng quý của con người. Nó dẫn con người ta đến bến 
bờ thành công và được mọi người quý trọng. Tuy nhiên, đừng quá tự tin vào bản thân mình mà dẫn đến 
chủ quan, đừng quá tự tin mà bước sang ranh giới của tự kiêu, tự phụ sẽ thất bại.
3. Bài học hành động và liên hệ bản thân
– Em có những niềm tin vào bản thân, gia đình và xã hội như thế nào.
– Em đã và đang làm gì để thực hiện hóa niềm tin ấy.
– Liên hệ bản thân
III. Kết bài
- Tổng kết vấn đề: Khẳng định lại vai trò, tầm quan trọng của niềm tin đối với con người trong cuộc sống.
Câu 2: 
Dàn ý chi tiết:
1. Mở bài:
– Giới thiệu qua về tác giả và tác phẩm:
– Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ hay nó chính là nỗi lòng của tác giả, nói lên ước mơ, khát 
khao của tác giả Thanh Hải muốn cống hiến sức lực, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước.
– Đây là bài thơ cuối được tác giả viết năm 1980 khi đang nằm trên giường bệnh trước khi qua đời không 
lâu.
 Ta làm con chim hót
 Ta làm một nhành hoa
 ...
 Dù là khi tóc bạc
2. Thân bài:
- Phân tích tựa đề của bài thơ là “Mùa xuân nho nhỏ” tác giả cũng đã gửi gắm rất nhiều tình cảm vào đó. 
Mùa xuân chúng ta sẽ nghĩ nhiều tới những cành lộc non đâm chồi xanh biếc, nhiều sức sống, phơi phới 
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
niềm tin. Nhưng đi bên cạnh hai từ “mùa xuân” lại là hai từ “nho nhỏ” gợi cho ta những cái gì đó nhỏ bé, 
giản dị.
- Ước mơ được cống hiến, mãi cống hiến, được thấy mình còn có ích, giúp ích cho cuộc đời dù chỉ là một 
cái gì đó “nho nhỏ”. Dù là tuổi hai mươi trẻ trung, phơi phới, tràn trề năng lượng, nhiệt huyết hay là khi 
tóc đã điểm hoa râm, đôi chiếc bạc, thân thể đã yếu ớt, cơ bắp và thớ thịt đã không còn cứng chắc, thì ước 
muốn được cống hiến vẫn còn vẹn nguyên trong tim tác giả.
- Tác giả chỉ muốn như “một nốt trầm xao xuyến” hòa nhập cùng mọi người, hòa ca vào bản nhạc mùa 
xuân của cuộc đời, của đất nước.
- Tác giả nói tới quy luật của cuộc đời của con người là sinh – lão - bệnh - tử. Ai cũng có lúc trẻ trung, rồi 
già đi “dù là tuổi hai mươi” hay là khi “tóc bạc” thì khát khao cống hiến, cảm thấy mình sống có ích vẫn 
luôn cháy bỏng trong tim tác giả.
- Tác giả hy vọng những ước mơ giản dị, những dâng hiến nhỏ nhoi của mình sẽ được hòa vào biển người 
rộng lớn ngoài kia cùng chung tay xây dựng vào sự phát triển của tổ quốc, một tổ quốc thiêng liêng.
3. Kết bài
- Nêu lên cảm nghĩ của mình về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”.
- Khẳng định lại một lần nữa những khát khao, ước muốn trong con tim tác giả gửi tới cuộc đời, một khát 
khao được sống cống hiến sức mình cho việc xây dựng quê hương đất nước “dù là tuổi hai mươi, dù là 
khi tóc bạc”.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 8
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT
 NGHỆ AN NĂM HỌC: 2018 - 2019
 Môn thi: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (2,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
 Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng 
ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi 
thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt 
cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị 
có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
 (Trích Bản thân chúng ta là giá trị có sẵn - Phạm Lữ, Nếu biết trăm năm là hữu hạn, 
 NXB Hội Nhà văn, 2012, tr.24)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra thành phần biệt lập trong câu: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều 
được sinh ra với những giá trị có sẵn.
Câu 3 (0,5 điểm). Nêu tên một biện pháp tu từ có trong những câu in đậm.
Câu 4 (0,5 điểm). Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
II. PHẦN LÀM VĂN (8,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm): Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.
Hãy viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Câu 2 (5,0 điểm). Thí sinh chỉ chọn một trong hai đề sau:
Đề 1: Cảm nhận về vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích sau:
 Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
 Tin sương luống những rày trông mai chờ.
 Bên trời góc bể bơ vơ,
 Tẩm son gột rửa bao giờ cho phai.
 Xót người tựa cửa hôm mai,
 Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
 Sân Lai cách mấy nắng mưa,
 Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
 (Trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Truyện Kiều - Nguyễn Du, Ngữ văn 9, Tập một, 
 NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.93 - 94)
Đề 2: Cảm nhận về vẻ đẹp của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong đoạn trích sau:
 Không có kính không phải vì xe không có kính
 Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.
 Ung dung buồng lái ta ngồi,
 Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
 Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
 Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
 Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
 Như sa như ùa vào buồng lái.
 (Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, Tập một, 
 NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.131)
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐÁP ÁN
I: Đọc hiểu
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là nghị luận.
Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu: "chắc chắn"
Câu 3: Biện pháp tu từ: điệp từ ("nhưng"), lặp cấu trúc câu "bạn có thể không....nhưng...."
Câu 4: Nội dung chính của đoạn trích trên: Mỗi con người trong chúng ta đều có những giá trị riêng và 
chính bản thân chúng ta cần biết trân trọng những giá trị đó.
II PHẦN LÀM VĂN
Câu 1:
a. Mở bài: Giới thiệu câu tục ngữ Nga “Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học”.
b. Thân bài:
* Giải thích: 
- Từ “xấu hổ”: đó là trạng thái tâm lí bình thường của con người khi cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn hoặc 
hổ thẹn khi thấy kém cỏi trước người khác.
- Ý nghĩa cả câu: chỉ ra sự khác nhau giữa “không biết” và ‘không học”, đồng thời khuyên con người phải 
ham học hỏi và biết “xấu hổ khi không học”.
* Bàn luận:
- Dùng lí lẽ, dẫn chứng để khẳng định sự đúng đắn của câu ngạn ngữ:
+ Tại sao lại nói: “Đừng xấu hổ khi không biết”? Tri thức của nhân loại là vô hạn, khả năng nhận thức 
của con người là hữu hạn. Không ai có thể biết được mọi thứ, không ai tự nhiên mà biết được. Không biết 
vì chưa học là một điều bình thường, không có gì phải xấu hổ cả. 
+ Tại sao nói: “chỉ xấu hổ khi không học”? Vì việc học có vai trò rất quan trọng đối với con người trong 
nhận thức, trong sự hình thành nhân cách, trong sự thành đạt, trong cách đối nhân xử thế và trong việc 
cống hiến đối với xã hội. Không học thể hiện sự lười nhác về lao động, thiếu ý chí cầu tiến, thiếu trách 
nhiệm với bản thân và xã hội. Việc học là một nhu cầu thường xuyên, phổ biến trong xã hội từ xưa đến 
nay, từ việc nhỏ như “Học ăn, học nói, học gói, học mở” đến những việc lớn như “kinh bang tế thế” , đặc 
biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, phát triển vũ bão về khoa học công nghệ như hiện nay. 
Việc học giúp chúng ta sống tốt hơn, đẹp hơn, hoàn hảo hơn.
* Có thể mở rộng phên phán những trường hợp giấu dốt, tự kiêu, tự mãn, học giả hay lười biếng.
* Bài học rút ra:
- Muốn việc học có kết quả, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, học sinh cần có phương thức học tập 
đúng đắn, phong phú: học ở trường, ở gia đình, ở xã hội, ở bạn bè, trong thực tế, trong sách vở, trong 
phim ảnh. Học phải kết hợp với hành biến nó trở thành sức mạnh phục vụ cho cuộc sống của chính mình 
và xã hội, có như vậy, việc học mới có ý nghĩa thực sự đúng đắn.
- Không giấu dốt, không ngại thú nhận những điều mình chưa biết để từ đó cố gắng học tập, tích cực rèn 
luyện, và không ngừng vươn lên.
- Khẳng định việc học là vô cùng quan trọng, không chịu học là điều đáng xấu hổ.
* Liên hệ bản thân: Em đã học tập, rèn luyện để tích lũy kiến thức, vốn sống của bản thân như thế nào? 
c. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa sâu xa của ý kiến này và những bài học mà bản thân em cần ghi nhớ qua 
đó.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
Đề 1:
1. Mở bài: Giới thiệu chung
* Tác giả
- Nguyễn Du (1765- 1820) tên chữ là Tố Như hiệu là Thanh Hiên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. 
Cuộc đời của ông gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ 
XIX.
- Truyện Kiều là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông.
* Tác phẩm
- Đoạn trích thơ thuộc phần Gia biến và lưu lạc.
- Nội dung chính của đoạn thơ nói về nỗi nhớ Kim Trọng và cha mẹ khi Thúy Kiều bị giam lỏng ở lầu 
Ngưng Bích.
2. Thân bài: Phân tích
a. Nỗi nhớ Kim Trọng:
- Nỗi nhớ Kim Trọng đến trước vì:
+ Khi bán mình là nàng đã tạm tròn chữ hiếu mà dang dở chữ tình -> luôn mang mặc cảm phụ bạc Kim 
Trọng.
+ Thúy Kiều bị lừa, bị thất thân với Mã Giám Sinh, bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để đợi người chuộc 
thân -> lại càng thấy mình không xứng với Kim Trọng, có lỗi với Kim Trọng.
- “Tưởng”: là “nhớ về”, “mơ tưởng” -> kỉ niệm vẫn vẹn nguyên, sống động, vẫn khiến nàng nhớ nhung, 
mơ tưởng
=> khát vọng tình yêu, hạnh phúc.
- Tấm lòng thủy chung của Thúy Kiều: Nàng nhớ đêm trăng thề nguyền và lời thề với Kim Trọng. Lời thề 
còn vẹn nguyên khiến nàng càng tự trách mình phụ bạc chàng Kim.
- Nhớ để mà xót xa cho Kim Trọng nơi xa vẫn nay trông mai ngóng; xót xa cho bản thân lưu lạc nơi chân 
trời góc bể, cho tấm hình son sắt thủy chung không biết bao giờ mới có thể phôi pha.
Qua đó ta cảm nhận được tấm lòng vị tha, tình yêu mãnh liệt, thủy chung mà Thúy Kiều dành cho Kim 
Trọng cũng như nỗi đau đớn, ân hận, giày vò của Thúy Kiều.
b. Nỗi nhớ cha mẹ:
- Từ “xót”:
+ Là nỗi xót xa, thương cảm của một người con dành cho cha mẹ đã tuổi cao, sức yếu.
+ Vì tưởng tượng ra cảnh cha mẹ ngày đêm tựa cửa, ngóng chờ mình (“hôm mai”...)
+ Vì cha mẹ thiếu bàn tay chăm sóc: “quạt nồng ấp lạnh”.
+ Vì ý thức được sự vô tình của thời gian -> cha mẹ ngày càng già yếu hơn.
- Nhớ để rồi ân hận, tự trách bản thân mình vẫn chưa tận hiếu với mẹ cha.
=> Nàng là người con hết sức hiếu thảo
c. Đặc sắc nghệ thuật
- Nghệ thuật sử dụng ngôn từ giàu cảm xúc, cô đọng, hàm súc.
- Sử dụng linh hoạt điển tích
3. Kết bài: Đánh giá chung.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
- Đoạn trích cho thấy vẻ đẹp nhân phẩm của Thúy Kiều: một người con gái thủy chung, một người con 
hiếu thảo, một con người vị tha, đáng trân trọng.
ĐỀ 2:
MỞ BÀI
- Hoàn cảnh sáng tác: năm 1969, trong cuộc chiến đấu gian khổ của những chiến sĩ lái xe đường Trường 
Sơn thời chống Mỹ.
- Bài thơ hay trong chùm thơ đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 - 1970, tiêu biểu cho 
phong cách thơ Phạm Tiến Duật.
- Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Trích trong tập Vầng trăng - Quầng lửa) là một trong 
những bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong lòng người đọc về hình ảnh những người lính và sự kế thừa của 
biết bao thế hệ...
THÂN BÀI: Phân tích hai khổ thơ
1. Hình tượng thơ gắn liền với cái đẹp, vẻ chau chuốt sự kì vĩ đi cùng năm tháng đó chính là hình ảnh 
những chiếc xe không kính 
- Bình thường, những chiếc xe không kính không thể gọi là cái đẹp, ấy thế mà tác giả đã lấy hình tượng 
đó làm cảm hứng xuyên suốt của bài thơ. Hình tượng độc đáo nhưng hợp lý này đã có tác dụng gây ấn 
tượng mạnh, là cơ sở để làm nổi bật phẩm chất dũng cảm, sự lạc quan và quyết tâm dành chiến thắng của 
anh lính lái xe thời chống Mĩ.
- Hình tượng những chiếc “xe không kính” đã gợi lên những nguy hiểm cận kề. Những “bom giật, bom 
rung” làm vỡ kính xe. Sự hi sinh, cái chết đã ở đâu đó, rất gần những người lính.
Lời thơ bình dị:
 “Không kính không phải vì xe không có kính
 Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi ”
Hoàn cảnh chiến trường khó khăn, cái chết là những thử thách lớn với những người lái xe trên con đường 
Trường Sơn khói lửa.
- Điệp ngữ “ không có kính” ở đầu các khổ thơ vừa có tác dụng nhấn mạnh cho ta cảm nhận được gian 
khổ, hiểm nguy sự khốc liệt của hiện thực cuộc chiến đối với người lính Trường Sơn vừa khắc họa được 
nét tiêu biểu của con người Việt Nam, dù thiếu thốn, khó khăn vẫn kiên cường chiến đấu.
2. Hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn:
- Tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp mọi khó khăn nguy hiểm, niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ 
và ý chí chiến đấu vì miền Nam.
- Trong bom đạn khốc liệt của chiến tranh, anh chiến sĩ vẫn dữ vững tư thế hiên nghang hướng về phía 
trước, thực hiện khẩu hiệu: “tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Câu thơ chuyển giai điệu, 
thanh thản, tự tin:
 “Ung dung buồng lái ta ngồi 
 Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.
- Những từ ngữ chọn lọc “ung dung”, “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” thể hiện tư thế, phong cách 
anh bộ đội lái xe trên đường ra trận.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
- Tư thế hiên ngang, lòng tự tin của anh bộ đội còn được biệu lộ ở chỗ bất chấp “bom giật, bom rung” của 
kẻ thù, vẫn cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên, của đất nước, những nét đẹp lãng mạng, mặc dù cái chết 
còn lẩn quẩn, rình rập đâu đó quanh anh. 
KẾT BÀI
- Nêu cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong 2 khổ thơ
- Nhà thơ đã tạo dựng được những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên những hình tượng làm xúc động lòng 
người. Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội của mình. Vì 
thế, hình tượng người chân thật và sinh động.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 9
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 NGHỆ AN NĂM HỌC: 2017 - 2018
 MÔN THI: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU: 2 điểm
Đọc đoan trích và thực hiện các yêu cầu
 Mẹ ơi những ngày xa
 Là con thương mẹ nhất
 Mẹ đặt tay lên tim
 Có con đang ở đó
 Như ngọt ngào cơn gió
 Như nồng nàn cơn mưa
 Với vạn ngàn nỗi nhớ
 Mẹ dịu dàng trong con!
 (Trích: Dặn mẹ - Đỗ Nhật Nam, Hát cùng những vì sao, NXB Lao động, 2016, tr 69)
1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ gì? (0,5 điểm)
2. Chép những dòng thơ sử dụng phép tu từ điệp ngữ trong khổ thơ thứ hai. (0,5 điểm)
3. Xác định từ ghép, từ láy trong các từ sau: nồng nàn, nỗi nhớ (0,5 điểm)
4. 
 Mẹ đặt tay lên tim
 Có con đang ở đó
Em hiểu thế nào về hai dòng thơ trên? 0,5 điểm)
PHẦN HAI. LÀM VĂN (8 điểm)
Câu 1. (3 điểm)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: Cuộc đời mất đi tình bạn cũng giống như thế giới mất 
đi mặt trời.
Câu 2. (5 điểm)
Phân tích nhân vật ông Hai trong đoạn trích sau:
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thầy mấy lị con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Nghệ An (Có lời giải) - De-Thi.com
- À, thầy hỏi con nhé.Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con 
như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình. Như để mình lại minh oan cho mình nữa.
 Anh em đồng chí biết cho bố con ông.
 Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi 
lần nói ra được đôi câu như vậy nỗi khổ trong lòng ông cũng vơi đi được đôi phần.
 (Trích Làng – Kim Lân, Ngữ văn 9, tập một , NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.169-170)
 -------------------------- HẾT -------------------------
 De-Thi.com

File đính kèm:

  • docxbo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_tinh_nghe_an_co_loi_giai.docx