Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải)

docx 54 trang Nhật Minh 16/03/2026 40
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải)

Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải)
 Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 HƯỚNG DẪN GIẢI
Phần I (4.0 điểm)
Câu 1:
Phương thức biểu đạt trong đoạn trích: biểu cảm.
Nội dung của đoạn trích trên: những ngày làm bộ đội, cậu sinh viên đã hiểu rõ thật nhiều điều về 
cuộc sống.
Câu 2:
– Tác giả viết: “Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu?” vì:
+ Việc học chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào cuộc sống.
+ Sự sống không phải chỉ biết cho cá nhân mình.
+ Khi Tổ quốc lên tiếng gọi, tuổi trẻ sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường vì Tổ quốc 
→ Thông điệp của đoạn trích: Tuổi trẻ phải biết sống, biết cống hiến, biết hi sinh cho Tổ quốc.
Câu 3:
I. Giới thiệu về vấn đề cần bàn luận: “Học đi đôi với hành”.
II. Thân bài
1. Giải thích học là gì? Hành là gì?
a. Học là gì?
- Học là lãnh hội, tiếp thu kiến thức từ những nguồn kiến thức như thầy cô, trường lớp, 
- Sự tiếp nhận các điều hay, hữu ích trong cuộc sống và xã hội.
b. Hành là gì?
- Hành là việc vận dụng những điều học được vào thực tế của cuộc sống.
- Thực hành giúp ta nắm chắc kiến thức hơn, nhớ lâu hơn và hiểu sâu hơn những điều được học.
⇒ Tại sao học phải đi đôi với hành?
- Học mà không có hành sẽ không hiểu được vấn đề, gây lãng phí thời gian.
- Có hành mà không có học sẽ không có kết quả cao.
2. Lợi ích của “học đi đôi với hành”:
- Hiệu quả trong học tập.
- Đào tạo nguồn nhân lực hiệu quả.
- Học sẽ không bị nhàm chán.
3. Phê phán lối học sai lầm:
- Học chuộng hình thức, học tủ để đối phó.
- Học cầu danh lợi.
- Học theo xu hướng.
 - Học vì ép buộc.
4. Nêu ý kiến của em về “học đi đôi với hành”:
- Học đi đôi với hành là một phương pháp học đúng đắn.
- Nêu cách học của mình.
- Thường xuyên vận dụng cách học này.
- Có những ý kiến để phát huy phương pháp học này.
5. Khẳng định học đi đôi với hành là một phương pháp học hiệu quả.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
III. Kết thúc vấn đề: nêu cảm nghĩ của em về “học đi đôi với hành”.
Học và hành là hai hình thức mà chúng ta phải làm tốt cả hai và kết hợp chúng với nhau một cách hiệu 
quả.
Phần II (6.0 điểm)
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
Giới thiệu đoạn trích: Đây là hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi đầy hào hứng và 
khổ thơ cuối khi đoàn thuyền trở về.
2. Thân bài
1.1 Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người
a. Cảnh hoàng hôn trên biển.
– Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
– Nghệ thuật so sánh, nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ. Mặt trời được ví 
như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà 
lớn, với đêm xuống là tấm cửa khổng lồ, những luồng sóng là then cửa. Chi tiết mặt trời xuống biển có 
thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở 
bờ biển nước ta, từ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh 
mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra 
biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy 
như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa 
ngày và đêm.
b. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi”
– Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa 
khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ 
ngơi của đất trời và sự làm việc của con người.
– Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: câu hát, cánh buồm 
và gió khơi. Người dân cá cánh buồm và cất câu hát lên như có cảm giác như chính câu hát đó đã làm 
căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng 
với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi.
– Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực. Đó là niềm vui 
phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì họ tìm thấy 
niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.
Khổ thơ cuối. Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên.
a. Cảnh đoàn thuyền trở về
– Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi,”
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
+ Có từ “với” là khác, có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước ⇒ làm cho khổ thơ cuối giống như 
điệp khúc của một bài hát, tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian, về công việc lao động; nhấn mạnh khí 
thế, tâm trạng của những người dân.
Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi, nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Câu hát đưa thuyền 
đi nay câu hát lại đưa thuyền về.
+ Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóa: Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời; cho thấy con 
người và vũ trụ chạy đua trong cuộc vận hành vô tận, con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên 
vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng. Có thể nói Huy Cận đã lấy tinh yêu của 
mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. Thay vào không gian vũ trụ buồn 
hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám.
b. Bình minh trên biển
– Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn, kết thúc bài thơ là cảnh bình minh: “Mặt trời đội biển nhô màu 
mới”. Ánh mặt trời sáng rực, từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. Câu thơ với 
ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian, của vũ trụ.
– Hình ảnh “mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa 
rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. ⇒ 
đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu trời và mặt biển, giữa thiên nhiên và thành quả lao động.
III. Kết luận chung
Bài thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới, bay bổng. Góp phần tạo nên âm 
hưởng ấy là các yếu tố lời thơ, nhịp điệu, vần. Cách gieo vần trong bài thơ biến hóa, linh hoạt, các vần 
trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen với vần cách. Các vần trắc tạo sức dội, sức mạnh, các vần bằng tạo sự 
vang xa, bay bổng, tạo nên những vần thơ khoáng đạt, kì vĩ, phơi phới niềm vui.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 8
 SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 BÌNH ĐỊNH Năm học 2018-2019
 Môn thi: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
Câu 1 (5,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 "Con cò ăn đêm,
 Con cò xa tổ,
 Cò gặp cành mềm,
 Cò sợ xáo măng "
 Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
 Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
 Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân.
 Con chưa biết con cò,con vạc.
 Con chưa biết những cành mềm mẹ hát,
 Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.
 (Tr.45, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo Dục)
1. Đoạn thơ trên nằm trong văn bản nào, của tác giả nào?
2. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
3. Chỉ ra và nêu tác dụng 02 biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Con chưa biết con cò, con vạc 
– Con chưa biết những cành mềm mẹ hát”
4. Trong đoạn thơ, các câu thơ “Con cò ăn đêm - Con cò xa tổ - Cò gặp cành mềm - Cò sợ xáo 
măng ” đã được tác giả vận dụng từ câu ca dao nào, hãy ghi lại câu ca dao đó.
5. Viết một đoạn văn trình bày cảm nghĩ của em về ý nghĩa câu thơ “Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ! – 
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng.” (khoảng 12 – 15 dòng)
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về tình yêu làng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng" của nhà văn Kim Lân.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐÁP ÁN
Câu 1:
1) Đoạn thơ nằm trong văn bản Con cò của tác giả Chế Lan Viên.
2) Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
3) Biện pháp tu từ: điệp ngữ ("con chưa biết")
=> Ở tuổi ấu thơ, những đứa trẻ chưa thể hiểu và chưa cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru nhưng 
chúng cảm nhận được sự vỗ về, âu yếm trong âm điệu ngọt ngào, êm dịu. Chúng đón nhận tình yêu 
thương, che chở của người mẹ bằng trực giác.. Đây chính là sự khởi đầu của con đường đi vào thế giới 
tâm hồn mỗi con người, của những lời ru, lời ca dao dân ca, qua đó là cả điệu hồn dân tộc.
4) 
 Con cò mà đi ăn đêm
 Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
 Ông ơi ông vớt tôi nao
 Tôi có lòng nào ông có xáo măng
 Có xáo thì xáo nước trong
 Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
5) Tham khảo những ý chính cần triển khai như sau:
+ Câu thơ “Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!” ngắt nhịp 2/2/2/2 rất đều đặn giống như những nhịp vỗ về 
của người mẹ cho đứa con mau chóng vào giấc ngủ. Vì thế mà lời thơ mang được âm điệu ngọt ngào, dịu 
dàng của những lời ru.
+ Hình ảnh ẩn dụ "cành mềm mẹ đã sẵn tay nâng": Mẹ luôn ở bên, dang đôi cánh tay để che chở, ấp ủ 
con, để cho con luôn được an toàn => nói lên tình yêu thương dạt dào vô bờ bến mẹ dành cho con, mẹ là 
chỗ dựa đáng tin cậy, là lá chắn che chở suốt đời cho con.
+ Hình ảnh con cò mang ý nghĩa tượng trưng cho lòng mẹ, cho sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng và bền bỉ của 
mẹ đối với con.
=> Mẹ thương con cò trong ca dao lận đận, mẹ dành cho con bao tình yêu thương, cánh tay dịu hiền của 
mẹ che chở cho con, lời ru câu hát êm đềm và dòng sữa mẹ ngọt ngào đã nuôi con khôn lớn. Tình mẹ 
nhân từ, rộng mở với những gì nhỏ bé đáng thương, đáng được che chở. Lời thơ như nhịp vỗ về thể hiện 
sự yêu thương dào dạt vô bờ bến.
Câu 2: Tham khảo dàn ý chi tiết dưới đây:
I) Mở bài:
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về cuộc sống nông thôn.
- Một trong những tác phẩm của ông là truyện ngắn Làng với nhân vật chính là ông Hai – một người phải 
rời làng của mình để đến nơi tản cư.
II) Thân bài: 
* Luận điểm 1: Tình yêu làng
- Luận cứ 1: niềm tự hào, kiêu hãnh của ông hai về làng của mình
+ Dù đã rời làng nhưng ông vẫn: nghĩ về làng của mình, nghĩ về những buổi làm việc cùng anh em, lo 
lắng, nhớ đến làng: “Chao ôi! Ông lão nhớ cái làng này quá”.
- Luận cứ 2: Tâm trạng của ông hai khi nghe tin làng chợ dầu đi theo giặc:
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
+ Cổ ông nghẹn, giọng lạc hẳn đi.
+ Lúc đầu ông không tin nên hỏi lại.
+ Ông quá xấu hổ nên đã chép miệng, đánh trống lảng:”Hà, nắng gớm, về nào “ rồi cúi mặt mà đi.
+ Khi về nhà, ông nằm vật ra gường. Tối hôm đó thì trằn trọc ko ngủ dc. 
+ Ông nhìn đám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng việt gian rổi khóc.
+ Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn ko tin lại có ai làm 
điều nhục nhã ấy.
+ Lo sợ sẽ bị bà chủ nhà đuổi vì ông biết rằng nơi đây ai cũng khinh bỉ và ko chứa chấp việt gian.
- Luận cứ 3: tâm trạng ông hai sau khi nghe tin làng được cải chính
+ Mặt ông hai vui tươi, rạng rỡ hẳn lên.
+ Về nhà, ông chia quà cho lũ trẻ xong liền chạy khắp xóm để loan tin.
+ Ông qua nhà bác Thứ và kể chuyện làng của mình.
* Luận điểm 2: Tình yêu nước:
- Tình yêu làng là cơ sở cho tình yêu nước. 
- “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” khi nghe các tin dân ta đánh Tây từ phòng thông tin.
- Ông và con ông đều ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh (cuộc đối thoại giữa 2 cha con gần cuối bài).
III) Kết bài:
- Ông Hai là một người rất rất yêu làng và yêu nước của mình.
- Hai điều trên đã được tác giả làm rõ qua cách xây dựng nhiều tình huống truyện khác nhau, miêu tả tâm 
lí nhân vật qua những cuộc đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 9
 SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 BÌNH ĐỊNH Năm học 2017-2018
 Môn thi : NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
Câu 1 (4.0 điểm)
Đọc kỹ đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
 “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi 
xúc động. Mỗi lần bị xúc động, vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ. Với vẻ 
mặt xúc động ấy và hai tay vừa đưa về phía trước, anh chầm chậm bước tới, giọng lắp bắp run run ”
 (Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục)
a) Tìm các từ láy có trong đoạn trích.
b) Tìm từ địa phương và cho biết từ đó thuộc phương ngữ nào.
c) Tìm khởi ngữ trong đoạn trích.
d) Câu cuối trong đoạn trích thuộc kiểu câu gì? Vì sao?
Câu 2 (6.0 điểm)
Trong truyện ngắn Bến quê, Nguyễn Minh Châu đã để cho nhân vật Tuấn miễn cưỡng làm theo lời yêu 
cầu khẩn khoản của Nhĩ – “... con sang bên kia sông hộ bố...” nhưng sau đó Tuấn lại “sa vào một đám 
người chơi phá cờ thế trên hè phố” và có thể lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.
Cảm nhận của em về ý nghĩa của sự việc trên.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 HƯỚNG DẪN CHẤM
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đảm bảo đánh giá tổng quát bài làm của thí 
sinh, tránh đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án 
và thang điểm. Cần trân trọng, khích lệ những bài viết có ý tưởng sâu sắc, phát hiện độc đáo, sáng tạo, 
giọng văn cảm xúc, chân thật.
- Nếu thí sinh giải quyết vấn đề theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đề bài, giám 
khảo vẫn cần cứ đáp án cho điểm.
- Điểm toàn bài được tính đến mức lẻ 0.25.
II. Đáp án và biểu điểm
Câu 1 (4.0 điểm):
 Câu Đáp án Điểm
 1a Các từ láy có trong đoạn: ngơ ngác, lạ lùng, giần giật, chầm chậm, lắp 1,5đ (phát hiện mỗi 
 bắp, run run. từ láy được 0.25đ)
 1b Từ địa phương: Vết thẹo. 0,5đ
 Thuộc phương ngữ Nam Bộ. 0,5đ
 1c Khởi ngữ trong đoạn: Còn anh 0,5đ
 1d Câu cuối trong đoạn trích thuộc kiểu câu đơn hoặc câu trần thuật. 0,5đ
 Vì thành phần nòng cốt của câu là một cụm chủ – vị hoặc vị ngữ và vị ngữ 0,5đ
 kể, miêu tả một sự việc.
Câu 2 (6.0 điểm):
1. Yêu cầu về kỹ năng:
Thí sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Bố cục đầy đủ, kết cấu chặt chẽ. Hành văn trong sáng, 
cảm xúc. Không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu thông thường.
2. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày nhiều cách khác nhau miễn là nêu được một số ý cơ bản sau:
2.1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nêu được vấn đề cần nghị luận. (1.0 điểm)
2.2. Cảm nhận về ý nghĩa sự việc: (1.5 điểm)
- Tạo ra được một nghịch lý trớ trêu: Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông và khao 
khát được đặt chân lên bãi bồi ấy khi anh không thể đi lại được. Còn với Tuấn, việc đến bãi bồi bên kia 
sông là điều dễ dàng nhưng anh lại không hiểu làm việc đó để làm gì vì anh không thấy được vẻ đẹp của 
bãi bồi bên kia sông và càng không hiểu được khao khát của cha mình.
- Chỉ ra cho chúng ta thấy con người ta khó tránh khỏi những ham muốn xa vời: Hiện tại của anh con trai 
chính là quá khứ của Nhĩ Anh con trai đang sống những tháng ngày như Nhĩ đã từng sống, đang ham 
mê những điều mà Nhĩ đã từng ham mê và đang không nhận ra giá trị của cái bình dị, thân thuộc, gần gũi 
như Nhĩ đã từng không nhận ra. Cũng như Nhĩ trước đây, anh con trai đang bị lôi cuốn bởi những điều 
“vòng vèo”, “chùng chình” 
- Sự việc trên còn có ý nghĩa thức tỉnh: Cuộc chơi phá cờ thế mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là những ham 
muốn xa vời luôn lôi cuốn con người ta Từ đó nhà văn muốn khẳng định: người ta khó có thể nhận ra 
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
và tìm đến được vẻ đẹp bình dị mà bền vững của cuộc sống đời thường chừng nào vẫn còn bị những ham 
muốn xa vời lôi cuốn. Và đừng vì những ham muốn mà thờ ơ, hờ hững để rồi lãng quên giá trị đích thực 
của cuộc sống. Hãy biết khám phá và biết nâng niu, trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống khi chưa muộn 
2.3. Đánh giá khái quát ý nghĩa tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của sự việc trong tác phẩm. (0.5 điểm)
Lưu ý: Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đáp ứng cả hai yêu cầu về kỹ năng và kiến thức.
 De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 tỉnh Bình Định (Có lời giải) - De-Thi.com
 ĐỀ SỐ 10
 SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 BÌNH ĐỊNH Năm học 2016-2017
 Môn thi : NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
Câu 1 (4,0 điểm).
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 “Bước vào thế kỷ mới, nước ta sẽ hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Bản tính thích 
ứng nhanh sẽ giúp dân ta tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do tiến trình hội nhập đem lại. 
Nhưng thái độ kỳ thị đối với sự kinh doanh, thói quen ảnh hưởng sự bao cấp, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài 
ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước. Thói quen ở không ít người thích tỏ ra “khôn 
vặt”,”bóc ngắn cắn dài”, không coi trọng chữ “tín” sẽ gây tác hại khôn lường trong quá trình kinh doanh 
và hội nhập.”
 (Ngữ văn 9, tập 2, tr.28, NXB Giáo dục)
1) Đoạn văn trên nằm trong văn bản nào? Của tác giả nào?
2) Xác định thành ngữ được sử dụng trong đoạn văn.
3) Trong đoạn văn trên, tác giả đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu nào của người Việt Nam khi bước 
vào thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới?
4) Hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về việc sử dụng Internet trong thời kỳ hội nhập và 
phát triển của đất nước ta hiện nay (trình bày khoảng 12-15 dòng).
Câu 2 (6,0 điểm).
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
 “Đất nước bốn ngàn năm 
 Vất vả và gian lao
 Đất nước như vì sao 
 Cứ đi lên phía trước.
 Ta làm con chim hót 
 Ta làm một cành hoa 
 Ta nhập vào hòa ca
 Một nốt trầm xao xuyến.
 Một mùa xuân nho nhỏ 
 Lặng lẽ dâng cho đời 
 Dù là tuổi hai mươi
 Dù là khi tóc bạc.”
 (Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải)
 De-Thi.com

File đính kèm:

  • docxbo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_tinh_binh_dinh_co_loi_giai.docx