Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải)
Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cửa. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc, mà ở bờ biển nước ta, trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển. Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn, nhìn về phía tây, qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm. b. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi” – Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển. Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người. – Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi. – Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó là niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động, yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc. 3. Kết bài: Cảm nhận chung của em với 4 câu thơ và khẳng định tài hoa của tác giả Huy Cận. Văn mẫu tham khảo Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới .Sau cách mạng ông nhanh chóng hoà nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại và trường kì của dân tộc. Hoà bình lập lại, từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống đang lên. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”được ông sáng tác ở Hòn Gai năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày. Bài thơ thực sự là một khúc tráng ca, ca ngợi cuộc sống của những con người lao động mới . Bài thơ là sự kết hợp của hai nguồn cảm hứng: cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui, sự hào hứng trong thời kì miền Bắc bước vào xây dựng cuộc sống mới và cảm hứng vũ trụ vốn là nét nổi bật trong hồn thơ Huy Cận. Sự gặp gỡ, giao hoà của hai nguồn cảm hứng đó đã tạo nên những hình ảnh rộng lớn, tráng lệ, lung linh như những bức tranh sơn mài của bài thơ. Đoàn thuyền ra khơi được miêu tả trong một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp: Mặt trời xuống biển như ngọn lửa. Sóng đã cài then đêm sập cửa. Nghệ thuật so sánh và nhân hoá được sử dụng thật độc đáo. Mặt trời được ví như hòn lửa đang lặn dần vào lòng biển. Vũ trụ như một ngôi nhà lớn, màn đêm xuống mau khép lại ánh sáng như đóng sập cánh cửa khổng lồ mà những lượn sóng là chiếc then cài. Ngày đã khép lại, vũ trụ như đang bước vào trạng De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com thái thư giãn sau một ngày lao động thì chính lúc ấy một ngày lao động mới của người dân đánh cá lại bắt đầu: Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Khi vị chủ nhân thứ nhất của thiên nhiên là mặt trời đi ngủ thì vị chủ nhân thứ hai – những người dân chài của cuộc sống mới lại mở cửa đêm để ra biển đánh cá. Công việc của những người dân chài diễn ra như một nhịp sống đều đặn trở thành quen thuộc, nền nếp. Nếu như sức sống của thiên nhiên như ngưng lại thì sự có mặt của đoàn thuyền như nối tiếp nhịp sống đó. Dù đã cài then, sập cửa nhưng biển không chìm trong lạnh lẽo hoang vu mà trái lại biển đang là chứng nhân cho sự làm việc hăng say, không nghỉ của những người lao động: Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Câu thơ xuất hiện ba sự vật khác biệt là câu hát, căng buồm và gió khơi nhưng lại được gắn kết, hoà quyện với nhau. Tiếng hát khoẻ khoắn của cả tập thể hoà với tiếng gió thổi căng buồm đẩy thuyền phăng phăng rẽ sóng. Câu hát là niềm tin, sự phấn chấn của người lao động. Sự kết hợp của nhịp điệu gấp gáp khẩn trương ở hai câu đầu với cái thanh thoát, đĩnh đạc của nhịp thơ hai câu sau đã vẽ nên bức tranh hào hùng về cảnh đoàn thuyền ra khơi. Khổ thơ còn là sự kết hợp của những liên tưởng táo bạo với những phép tu từ so sánh, nhân hoá đặc sắc đã giúp tác giả thể hiện khúc ca ra khơi hào hùng của người dân chài. Vâng, chỉ với bốn câu thơ mở đầu miêu tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”. Cảnh ngày tàn mà vẫn ấm áp, vẫn tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao động. Không khí chung của bốn câu thơ mở đầu này chi phối không khí chung của cả bài thơ. Qua đó ta cũng thấy được vẻ đẹp hùng tráng và thơ mộng của biển khơi, ngợi ca cuộc sống tưng bừng niềm vui xây dựng mà Huy Cận muốn thể hiện De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 8 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT HẢI PHÒNG NĂM HỌC 2018-2019 ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) Phần I. (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tình, đọc cho kĩ. Nếu đọc được 10 quyển sách không quan trọng, không bằng đem thời gian, sức lực đọc 10 quyển ấy mà đọc một quyển thật sự có giá trị. Nếu đọc được mười quyển sách mà chỉ lướt qua, không bằng chỉ lấy một quyển mà đọc mười lần. “Sách cũ trăm lần xem chẳng chán - Thuộc lòng ngẫm kỹ một mình hay, hai câu thơ đó đang làm lời răn cho mỗi người đọc sách. Đọc sách vốn có ích riêng cho mình, đọc nhiều không thể coi là vinh dự, đọc ít cũng không phải là xấu hổ. Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích lũy, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất, đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu, như cưỡi ngựa qua chợ, tay châu báu hơi đầy, chỉ tố làm cho mắt hoa ý loạn, tay không mà về. (Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam 2016, trang 4, 5) Câu 1. (2.0 điểm) Nêu xuất xứ của đoạn trích trên. Xác định nội dung chính của đoạn trích. Câu 2. (1.0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của một nét nghệ thuật đặc sắc trong câu văn sau: “Nếu đọc được mười quyển sách mà chỉ lướt qua, không bằng chỉ lấy một quyển mà đọc mười lần". Câu 3. (2.0 điểm) Từ tinh thần của đoạn trích trên, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 1/2 trang) theo kiểu tổng - phân - hợp, trình bày suy nghĩ của bản thân về phương pháp đọc sách cho cho hiệu quả. Phần II. (6.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: - Thôi, chấm dứt tiết mục hái hoa - Người con trai bất chợt quyết định - Bác lái xe chỉ cho ba mươi phút thôi. Hết năm phút rồi. Cháu nói qua công việc của cháu năm phút. Còn hai mươi phút, mời bác và cô vào nhà uống chè, cho cháu nghe chuyện. Cháu thèm nghe chuyện dưới xuôi lắm. Công việc của cháu cũng quanh quẩn ở mấy chiếc máy ngoài vườn này thôi. Những cái máy vườn trạm khí tượng nào cũng có. Dãy núi này có ảnh hưởng quyết định với gió mùa đông bắc đối với miền Bắc nước ta. Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Đây là máy móc của cháu. Cái thùng đo mưa này, ở đâu bác cũng trông thấy, mưa xong đổ nước ra cái cốc li phân mà đo. Cái này là máy nhật quang kí, ánh sáng mặt trời xuyên qua cái kính này, đốt các mảnh giấy này, cứ theo mức độ, hình dáng vết cháy vết cháy mà định nắng. Đây là máy vin, nhìn khoảng cách giữa các răng cưa mà đoán gió. Ban đêm không nhìn mây, cháu nhìn gió lay lá, hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng, có thể nói được mây, tính được gió. Cái máy nằm dưới sâu kia là máy đo chấn động vỏ quả đất. Cháu lấy những con số, mỗi ngày báo về "nhà" bằng máy bộ đàm: bốn giờ, mười một giờ, bảy giờ tối, lại một giờ sáng. Bản báo ấy trong ngành gọi là "ốp". Công việc nói chung dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi. Chui ra khỏi chăn, ngọn đèn bão vặn to đến cỡ nào vẫn thấy là không đủ sáng. Xách De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com đèn ra vườn, gió tuyết và lặng im ở bên ngoài như chỉ chực mình ra là ào ào xô tới. Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung... Những lúc im lặng lạnh cóng mà lại hừng hực như cháy. Xong việc, trở vào, không thể nào ngủ lại được. (Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2016, trang 183, 184) Câu 1. (0,5 điểm) Nêu hoàn cảnh sáng tác của văn bản chứa đoạn trích trên. Câu 2. (1.5 điểm) Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Cái lặng im lúc đó mới thật dễ sợ: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi muốn quét đi tất cả, ném vứt lung tung.. ". Câu 3. (4,0 điểm) Viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích trên. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com HƯỚNG DẪN GIẢI Phần I. Câu 1. Đoạn trích nằm trong "Bàn về đọc sách" của tác giả Chu Quang Tiềm. Nội dung chính của đoạn trích nói về phương pháp đọc sách. Câu 2. Nét đặc sắc trong câu văn này đó là tác giả đã sử dụng khá hóm hỉnh nghệ thuật so sánh khi nói về phương pháp đọc sách, làm cho lí lẽ thêm phần gợi cảm, thấm thía. Câu 3. * Mở đoạn: Nêu vấn đề đọc sách: * Thân đoạn: Phân tích lời bàn của Chu Quang Tiềm về phương pháp đọc sách ở mấy điểm sau: - Không nên đọc lướt qua, vừa đọc phải vừa suy ngẫm, "trầm ngâm tích luỹ tưởng tượng", nhất là với các cuốn sách có giá trị. - Không nên đọc một cách tràn lan, quyển nào có cũng đọc mà phải đọc một cách có kế hoạch và hệ thống. Có thể coi đọc sách là một công việc rèn luyện, một cuộc chuẩn bị âm thầm và gian khổ. - Đọc sách không chỉ là việc học tập tri thức mà còn là chuyện rèn luyện tính cách, chuyện học làm người. - Ông còn nêu ra thực trạng nhiều người đọc sách chỉ chú trọng số lượng, đọc qua loa mà không chú trọng tới chất lượng ý nghĩa mà mình thu lại được => em cảm nhận thế nào về diễn giải của tác giả về thực trạng cách đọc sách sai lầm của nhiều người hiện nay. * Kết đoạn: Việc đọc sách sai lệch như thế khiến con người tiêu tốn nhiều thời gian vào những cuốn sách vô bổ, lại không thu thập được kiến thức chuyên sâu cho mình. Bài viết đã nhắc nhở người đọc về cách đọc sách để từ đó người đọc suy nghĩ, tìm tòi cách đọc sách đúng đắn, đạt hiệu quả cao. Phần II: Câu 1. - “Lặng lẽ Sa Pa” được sáng tác năm 1970, trong chuyến đi thực tế của tác giả ở Lào Cai. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu ở đề tài viết về cuộc sống mới hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. - In trong tập “Giữa trong xanh” (1972) của Nguyễn Thành Long. Câu 2. Câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa. + Biện pháp so sánh: nó như bị chặt ra từng khúc, mà gió thì giống những nhát chổi muốn quét đi tất cả... + Nhân hóa: chặt, quét => Tác dụng: Nhấn mạnh hoàn cảnh làm việc đầy khó khăn, vất vả của anh thanh niên. Qua đó làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của nhân vật này. Câu 3. Đoạn văn trên thể hiện về công việc anh thanh niên thực hiện: – Anh sống trên núi cao, thực hiện công việc trên trạm khí tượng. Cuộc sống thiếu thốn, khổ cực. – Công việc thực hiện trong điều kiện thời tiết khó khăn, thử thách với mưa sương gió lạnh. – Anh có những suy nghĩ đẹp về ý nghĩa của cuộc sống, công việc mà mình đang thực hiện. – Công việc là niềm đam mê, công việc của anh dù thầm lặng ít người biết đến nhưng anh vẫn rất yêu công việc. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 9 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT HẢI PHÒNG NĂM HỌC 2016-2017 ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Bà lão láng giềng lại lật đật chạy sang: - Bác trai đã khá rồi chứ? - Cảm ơn cụ, nhà cháu đã tỉnh táo như thường. Nhưng xem ý hãy còn lề bề lệt bệt chừng như vẫn mỏi mệt lắm. - Này, bảo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn. Chứ cứ nằm đấy, chốc nữa họ vào thúc sưu, không có, họ lại đánh trói thì khổ. Người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàng hồn. ( Ngữ văn 8, tập một, trang 29, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014) Câu 1 (0,25 điểm). Đoạn trích trên được trích từ văn bản nào? Câu 2 (0,25 điểm). Tác giả của văn bản đó là ai? Câu 3 (0,25 điểm). Giải thích ngắn gọn ý nghĩa nhan đề của văn bản chứa đoạn trích trên. Câu 4 (0.25 điểm). Phần in đậm trong câu: “này, báo bác ấy có trốn đi đâu thì trốn.” làm thành phần biệt lập gì trong câu? A. Thành phần cảm thán B. Thành phần tình thái C. Thành phần phụ chú D. Thành phần gọi đáp Câu 5 (0,25 điểm) Từ nào sau đây không phải là từ láy? A. lệt bệt B. rề rề C. mỏi mệt D. lật đật Câu 6 (0,75 điểm). Về mặt cấu tạo ngữ pháp, câu: “ Người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàng hồn.” là câu đơn hay câu ghép? Hãy phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu đó. Câu 7 (1,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích trên, nêu suy nghĩ của em về tình yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống. PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm). Viết một bài văn ngắn trình bày cảm nhận của em về khổ thơ sau: Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước; Chỉ cần trong xe có một trái tim. (Phạm Tiến Duật, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Ngữ văn 9, tập một, trang 132, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015) Câu 2 (4,0 điểm). Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong văn bản Làng của Kim Lân ( Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt nam, 2015,) khi nghe tin làng mình theo giặc. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com HƯỚNG DẪN GIẢI PHẦN I. ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm) Câu 1. - Văn bản: “Tức nước vỡ bờ” (trích từ “Tắt đèn”) Câu 2. - Tác giả: Ngô Tất Tố Câu 3. - Ý nghĩa nhan đề “Tức nước vỡ bờ”: Đây là một thành ngữ, gồm 2 vế, có quan hệ điều kiện, giải thích (tức nước → kết quả (vỡ bờ) tự quy luật tự nhiên để khái quát lên quy luật tâm lí của con người. Khi bị dồn ép quá đáng, con người sẽ vùng lên phản kháng, đấu tranh. - Nhan đề đã thể hiện tư tưởng xuyên suốt của tác phẩm: ca ngợi bản lĩnh của người nông dân bị áp bức, đồng thời khái quát chủ đề của văn bản: có áp bức, có đấu tranh. Câu 4. D. Thành phần gọi đáp. Câu 5. C. Mới Câu 6. “Người ốm// rề rề như thế, nếu lại phải một trận đòn, nuôi mấy tháng cho hoàn hồn.” C1 V1 V2 V3 → Câu đơn. Câu 7 HS có thể viết đoạn văn ngắn, nêu được các ý chính sau: - Tình yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống là thứ tình cảm tự nhiên, nhân bản, nhân văn. Biểu hiện qua sự sẻ chia, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong những lúc khó khăn, thử thách, thất bại, khổ đau, hoạn nạn. - Tình yêu thương giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách, thêm chí để tiếp tục bước đi, một cuộc đời ý nghĩa, lạc quan và tốt đẹp hơn. - Đó là cơ sở của tình đoàn kết, tình yêu quê hương, đất nước, là sức mạnh tinh thần và vật chất giúp ta chiến thắng tất cả kẻ thù để bảo vệ chủ quyền dân tộc. - Không có tình yêu thương, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên lạnh lẽo, vô hồn; khô khan, tẻ nhạt, thiếu hi vọng; từ đó, tốt đẹp hơn. Cần lên án những kẻ sống vô tâm, thờ ơ, ích kỉ. - Liên hệ bản thân. PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. Cảm nhận khổ thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. a. Giới thiệu chung - Phạm Tiến Duật là nhà thơ khoác áo lính, là gương mặt tiêu biểu của thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông gắn liền với hình ảnh người lính trẻ chiến trường với vẻ đẹp hồn nhiên, dũng cảm, trẻ trung mà sâu sắc. - “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” viết năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ đang vào giai đoạn ác liệt. Bài thơ in trong tập “Vầng trăng - Quầng lửa”, là một trong những bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong lòng người đọc về hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn, nổi riêng và những người lính cụ Hồ nói chung. - Đoạn thơ trên nêu bật vẻ đẹp của những người lính lái xe Trường Sơn. b. Cảm nhận * Nội dung: De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com - Hai câu đầu đoạn thơ, những mái tóc, khăn áo quần dính gió bụi, không kính, không đèn, không mui, thùng xe có xước biến pháp liệt kê. Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhấn lên ba lần những thử thách khốc liệt. - Hai câu cuối: Vẻ đẹp tinh thần, lí tưởng, ý chí, niềm tin. Hình ảnh “trong xe có một trái tim” là cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ phẩm chất anh hùng của người cầm lái tích tụ, dồn kết lại ở “trái tim” gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chan chứa tình yêu nước. → Hai câu cuối đã nêu lên chân lí của thời đại: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ mà là con người - con người mang trái tim nóng nảy yêu thương, ý chí kiên cường, dũng cảm, niềm lạc quan và niềm tin vững chắc. * Nghệ thuật: - Sự tương phản giữa hiện thực tàn khốc và lí tưởng mạnh mẽ của con người. - Sử dụng hình ảnh hoán dụ, biện pháp điệp từ và liệt kê đặc sắc. c. Đánh giá - Những khổ thơ trên đã phác họa thật đẹp về những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước gian khổ, ác liệt. Những câu thơ giản dị, hình ảnh sinh động cụ thể, giọng điệu giàu nhịp điệu và lạc quan đã góp phần thể hiện sâu sắc tinh thần cách mạng sôi nổi của những người lính trẻ. Tuổi trẻ chúng ta hôm nay cần nâng cao lòng biết ơn và noi gương các thế hệ cha anh đi trước! Câu 2. Cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện “Làng” của Kim Lân khi nghe tin làng mình theo giặc. a. Giới thiệu chung - Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông có sự am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống nông thôn và hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê cùng cảnh ngộ cuả người nông dân. - “Làng” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của đời văn Kim Lân nói riêng và của nền văn học kháng chiến chống Pháp nói chung – sáng tác đầu kháng chiến, được in năm 1948. - Truyện ca ngợi tình yêu làng, yêu nước, tinh thần kháng chiến sôi nổi của người nông dân Việt Nam, kết tinh ở nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy càng được thể hiện rõ nét trong tình huống ông nghe tin làng mình theo Tây. b. Cảm nhận * Vài nét về ông Hai: - Là một lão nông hiền lành, chất phác, rất yêu làng của mình (tự hào về làng, đi đâu cũng khoe cái làng của mình, tích cực tham gia các hoạt động chuẩn bị cho kháng chiến, ) - Ông phải rời làng đi tản cư nhưng vẫn luôn hướng về làng, nhớ làng đau đáu. * Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo Tây: - Ban đầu, ông luýnh quýnh khi nghe người ta nói Tây về làng chợ Dầu khủngbố “quay phắt lại lắp bắp hỏi” và tin tưởng làng chợ Dầu yêu nước sẽ kiên quyết đánh Tây “Thế ta giết được bao nhiêu thằng?” - Khi nghe tin làng theo Tây: + “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặngđi, tưởng như đến không thở được,” -> Ông bàng hoàng, kinh ngạc. Đây là một cú sốc lớn với ông. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com + “Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại, ” Ông muốn xác nhận lại thông tin vì không thể tin, không muốn tin vào điều đó. Nỗi đau đớn khiến ông mất hết cả tinh thần, trở nên suy sụp. + Ông “đứng dậy, chèm chẹp miệng cười nhạt một tiếng”. “vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng”, “cúi gằm mặt xuống mà đi”, “nằm vật ra giường” -> Ông đau đớn vì làng mình theo giặc, tủi hổ vì làng quê ông vấn rất yêu thương, tự hào nay lại phản bội cách mạng, đi làm Việt gian + Rồi ông “tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra”. Đó là giọt nước mắt của khổ đau, của sự bất lực vì giờ khắc này ông không thể thay đổi, phủ nhận được thông tin ấy. + Ông nghĩ đến những đứa con, trong đầu dần vất biết bao câu hỏi “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Ông vô cùng xấu hổ, nhục nhã vì là người con của một mảnh đất Việt gian, thương xót cho những đứa con vì cũng mang cái danh đáng xấu hổ ấy. + Ông lo sợ sẽ bị bà chủ nhà đuổi vì ông biết rằng nơi đây ai cũng khinh bỉ và không chứa chấp Việt gian. + Đỉnh điểm của nỗi đau, giận dữ: “ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên: Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!” và kiên quyết “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. => Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quý nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như đã chết đi một lần nữa. Và ở ông, tình yêu kháng chiến, tình yêu cách mạng còn lớn hơn nữa, nó chi phối tình cảm của ông đối với làng. => Qua đó, ta thấy ông Hai là một người có tình yêu làng, yêu nước vừa sâu nặng vừa tỉnh táo, sáng suốt. c. Đánh giá: - Nhà văn xây dựng được tình huống truyện đặc sắc, miêu tả tâm lí nhân vật qua những cuộc đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng. - Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã phản ánh chân thực tình yêu quê hương, làng xóm mộc mạc, chân chất của những người nông dân Việt Nam và mang đến một thông điệp ý nghĩa: Tình yêu Tổ quốc chẳng đến từ đâu xa xôi, nó bắt nguồn từ chính những tình cảm gần gũi, bình dị, thân thương nhất. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Thành phố Hải Phòng (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 10 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT HẢI PHÒNG NĂM HỌC 2015-2016 ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề) PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Đọc khổ thơ sau và trả lời các câu hỏi: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. (Ngữ văn 8, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 17) Câu 1. (0,25 điểm) Khổ thơ trên được trích trong bài thơ nào? Câu 2. (0,25 điểm) Tác giả của bài thơ đó là ai? Câu 3. (0,25 điểm) Bài thơ có khổ thơ trên được viết theo thể thơ gì? Câu 4. (0,25 điểm) Từ “bến” trong câu thơ “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm” thuộc từ loại nào? Câu 5. (0,5 điểm) Biện pháp tu từ nổi bật có trong câu thơ “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm” là gì? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ ấy? Câu 6. (0,5 điểm) Nêu nội dung của khổ thơ trên? Câu 7. (1,0 điểm) Từ khổ thơ trên, em hãy trình bày suy nghĩ của mình về tình yêu quê hương? PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (3,0 điểm) Bằng một bài văn ngắn (khoảng 200 đến 300 từ), em hãy trình bày cảm nhận của mình về vẻ đẹp của khổ thơ sau: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (Chính Hữu, Đồng chí, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 129) Câu 2. (4,0 điểm) Nhận xét về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, (Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015) có ý kiến cho rằng: Những thử thách nguy hiểm ở chiến trường, thậm chí cả cái chết, cũng không thể làm mất đi ở nhân vật Phương Định sự hồn nhiên, trong sáng và những mơ ước về tương lai. Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên bằng một bài văn nghị luận. De-Thi.com
File đính kèm:
bo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_thanh_pho_hai_phong_co_loi_g.docx

