Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải)
Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com - "Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi" gợi nhớ về thời điểm lịch sử là nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 làm hai triệu đồng bào ta chết đói. - Việc nhà thơ tách từ "mòn mỏi" để ghép thành "đói mòn đói mỏi" có tác dụng nghệ thuật đặc sắc: + Nhấn mạnh cái đói, sự nghèo khổ trong cuộc sống của hai bà cháu trong những năm 2 tháng tuổi thơ. + Nhắc lại sự kiện lịch sử của đất nước nhưng còn thể hiện thái độ, tình cảm của tác giả, bên cạnh tự sự còn kết hợp biểu cảm. + Sử dụng hình ảnh, từ ngữ chân thực, giản dị. "Đói mòn đói mỏi" làm cho giọng thơ như chùng xuống, nao nao. Những kỉ niệm gợi lại trong trí nhớ mà vẫn khiến tâm hồn nhà thơ rưng rưng. • Yêu cầu về hình thức: - Viết đúng hình thức một đoạn văn, khoảng 12 câu, câu chủ đề ở đầu đoạn văn. - Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc, có cảm xúc, có sử dụng phép nối và có câu bị động. Sau khi viết, cần gạch chân dưới từ ngữ dùng để nối và gạch dưới câu bị động đó. • Về nội dung: - Câu chủ đề: Đoạn thơ thể hiện một cách giản dị mà cảm động nỗi nhớ, lòng kính yêu, trân trọng, biết ơn bà của người cháu ở phương xa; mở rộng ra là tình yêu quê hương, đất nước. - Các câu sau cần triển khai, làm rõ ý trên như sau: 3 + Biện pháp liệt kê "Có ngọn khói trăm tàu" "Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả" đã cho thấy hoàn cảnh của người cháu ở phương xa: cháu đã khôn lớn, trưởng thành, được bay cao, bay xa và được sống với bao niềm vui rộng lớn. + Từ "nhưng" ở đầu câu thơ mở ra những xúc cảm chân thành, sâu sắc gắn liền với hình ảnh của bà và bếp lửa. Cùng với đó là câu hỏi tu từ vẫn đau đáu, thường trực trong tâm trí cháu mỗi sớm mai, cho thấy người cháu ở nơi xa vẫn không bao giờ quên đời bà lận đận, không quên sự tận tụy, hi sinh và tấm lòng ấm áp của bà. Nhờ bà và ngọn lửa bà "nhóm" mỗi sớm mai ấy mà cháu khôn lớn nên người. Dấu ba chấm ở cuối bài thơ như một dấu lặng, thay cho những nỗi niềm nhớ thương vô tận trong lòng người cháu hôm nay. 4 Bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 11 KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI NĂM HỌC 2015 - 2016 ĐỀ CHÍNH THỨC Môn thi: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 120 phút Phần I (7 điểm) Mở đầu một sáng tác, nhà thơ Huy Cận viết: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Và tác giả khép lại bài thơ bằng bốn câu: Câu hát căng buồm với gió khơi. Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. (Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB. Giáo dục 2014). 1. Ghi tên bài thơ có những câu trên. Từ những câu thơ ấy, kết hợp với hiểu biết về tác phẩm, em hãy cho biết mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự nào? 2. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. 3. Chép lại chính xác hai câu thơ liên tiếp trong bài thơ em vừa xác định thể hiện rõ nhất lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương. 4. Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch có sử dụng phép thế để liên kết và một câu cảm thán, làm nổi bật cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình mionh ở khổ thơ trên (gạch dưới từ ngữ dùng làm phép thế và câu cảm thán). Phần II (3 điểm) Dưới đây là đoạn trích trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê: Vắng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che đi những gì từ xa. Các anh cao xa có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc cô, các anh ấy có những cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sỹ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới. (Trích Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục 2014). 1. Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi được sáng tác trong hoàn cảnh nào? 2. Điều gì khiến nhân vật “tôi” đến gần quả bom lại cảm thấy không sợ nữa? 3. Từ đoạn trích trên và những hiểu biết xã hội, em hãy viết 1 đoạn văn (khoảng nửa trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của mỗi người trong mối quan hệ giữa các cá nhân và tập thể. --- HẾT --- De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com HƯỚNG DẪN CHẤM Phần I (7.0 điểm) Câu 1. - Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. - Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự chuyến đánh cá ra khơi của đoàn thuyền (theo đó là trình tự thời gian từ chiều xuống đến lúc bình minh) Câu 2. - Hình ảnh so sánh trong câu thơ giúp người đọc hình dung rõ bức tranh hoàng hôn trên biển vừa tráng lệ, huy hoàng vừa sống động, kì thú. - Hoàng hôn buông xuống nhưng không gian không chìm vào bóng tối mà rực lên ánh sáng, trên mặt nước lại cháy bùng ngọn lửa. - Hình ảnh thiên nhiên cũng gợi lên sức sống, không khí hào hứng, náo nức của những người ngư dân trong buổi ra khơi đánh cá. Câu 3. Hai câu thơ thể hiện lòng biết ơn của những ngư dân với biển cả quê hương trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là: Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào Câu 4. Yêu cầu: • Về mặt hình thức: - Đoạn văn theo cách lập luận diễn dịch khoảng 12 câu. - Gạch chân dưới từ ngữ dùng làm phép thế và câu cảm thán. • Nội dung: Vẻ đẹp của cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong buổi bình minh: - Đoàn thuyền trở về trong khúc ca khải hoàn Câu hát căng buồm với gió khơi. - Đoàn thuyền trở về trong tư thế hào hùng, chạy đua với thiên nhiên Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. - Đoàn thuyền trở về với đầy ắp cá tôm trong cảnh bình minh rạng ngời Mặt trời đội biển nhô màu mới/Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Từ đó, vẻ đẹp của con người lao động làm chủ vũ trụ, làm chủ cuộc đời đã hòa với vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ. Chú ý: Học sinh cần làm rõ các biện pháp nghệ thuật: kết cấu vòng tròn, ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ. Phần II (3.0 điểm) Câu 1. Tác phẩm Những ngôi sao xa xôi ra đời năm 1971. Đây cũng là những năm cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt nhất. Máy bay Mĩ ngày đêm ném bom, băm nát tuyến đường Trường Sơn – tuyến huyết mạch giao thông quan trọng để miền Bắc chi viện sức người, sức của cho miền Nam chống Mĩ. - Tác giả Lê Minh Khuê từng là nữ thanh niên xung phong trong những năm tháng dữ dội ấy, được chứng kiến những gian khổ, hi sinh cũng như lòng dũng cảm, tâm hồn tuyệt đẹp của tuổi trẻ Trường Sơn. Lê Minh Khuê không ngăn được xúc động và đã viết lên một áng văn nóng bỏng đạn bom mà vẫn mát rượi trữ tình để tôn vinh thế hệ trẻ anh hùng của non sông, đất nước. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com - Xuất xứ: Đây là tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, rút từ tập truyện ngắn cùng tên. Câu 2. Điều khiến nhân “tôi” đến gần quả bom lại thấy không sợ nữa chính là nhân vật “tôi” cảm thấy ánh mắt các chiến sĩ đang dõi theo mình. Đây chính là tâm trạng của nhân vật Phương Định – nữ trinh sát mặt đường, trong một lần phá bom. Chi tiết trên đã cho người đọc thấy lòng quả cảm, sự tự trọng của người nữ chiến sĩ anh hùng. Chính điều này giúp cô vượt qua nỗi sợ hãi, dũng cảm chiến đấu. Câu 3. Yêu cầu: • Hình thức: đoạn văn nghị luận khoảng nửa trang giấy thi. • Nội dung: Bàn về mối quan hệ giữa cá nhân – tập thể. - Khẳng định đây là mối quan hệ cần thiết, quan trọng, không thể thiếu với mỗi con người. - “Con người chính là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”, không ai có thể sống cá nhân, đơn lẻ. Nếu mỗi người không biết hòa mình vào tập thể không tạo nên một cộng đồng, xã hội. - Sức mạnh của mỗi cá nhân hợp lại sẽ tạo nên sức mạnh tập thể lớn lao (dẫn chứng: trong chiến tranh, sức mạnh của nhân dân đã đánh tan quân xâm lược; trong thời bình, nhân dân chung tay góp sức xây dựng đất nước phát triển ) Ngược lại, sức mạnh của tập thể sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thêm động lực (dẫn chứng). - Bài học nhận thức và hành động cho bản thân. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 12 KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI Năm học 2014 – 2015 Môn thi: Ngữ Văn ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút Phần I: (7 điểm) Dưới đây là trích đoạn trong truyện ngắn Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng): "Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén của nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi thất thần hất cái trắng ra cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên: - Sao mày cứng đầu quá vậy hả?" (Trích Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục 2013) 1. Chiếc lược nhà được viết năm nào? Ghi lại từ mang màu sắc Nam Bộ trong đoạn trích trên. 2. Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ gì và qua đó bộc lộ tình cảm nha thế nào đối với nhân vật ông Sáu? Lời kể in nghiêng trong đoạn trích trên giúp em nhận biết mục đích nói ở câu văn có hình thức nghi vấn sau đó là gì? 3. Viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo phép lập luận quy nạp làm rõ tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Ở đó có sử dụng câu có thành phần biệt lập và phép lặp để lên kết (gạch dưới thành phần biệt lập và từ ngữ sử dụng làm phép lặp). 4. Kể tên một tác phẩm khác của chương trình ngữ văn 9, trong đó có nhân vật người cha vì chiến tranh mà chia cách. Phần II. (3 điểm) Cho đoạn thơ: "Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con" (Y Phương, Nói với con, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục) 1. Tìm thành phần gọi - đáp trong những dòng ttho trên 2. Theo em việc dùng từ phủ định trong dòng thơ "Không bao giờ nhỏ bé được" nhằm khẳng định điều gì? 3. Từ bài thơ trên và những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về cội nguồn của mỗi con người qua đó thấy được trách nhiệm của mỗi cá nhân trong tình hình đất nước hiện nay. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com HƯỚNG DẪN CHẤM Phần I: (7 điểm) 1. Chiếc lược ngà được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động tại chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Các từ mang màu sắc Nam Bộ trong đoạn trích trên là : anh Sáu ; chén ; văng ; mày ; nó ; cứng đầu. 2. Những biểu hiện của nhân vật bé Thu ở trên nói lên thái độ cương quyết không nhận anh Sáu là ba, không nhận sự chăm sóc và yêu thương của anh Sáu đối với nó. Vì đến lúc đó dù mẹ của bé Thu đã nói, bé Thu vẫn không tin anh Sáu là ba thật của nó vì trên khuôn mặt anh có vết thẹo không giống với chân dung anh trong tấm ảnh mà bé Thu biết. Câu văn in nghiêng trong đoạn trích giúp người đọc nhận biết được câu văn có hình thức nghi vấn ở sau đó không phải là một câu dùng với mục đích hỏi vốn có của kiểu câu nghi vấn mà mục đích nói thật sự của câu đó là biểu thị cảm xúc của anh Sáu đối với thái độ của bé Thu. Giận quá và không kịp suy nghĩ nên hành động của anh Sáu lúc đó không đúng với bản chất của mình : vung tay đánh vào mông nó và hét lên. 3. Đề thi yêu cầu thí sinh viết một đoạn văn khoảng 15 câu theo cách lập luận quy nạp để làm rõ tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha trong truyện ngắn trên. Đoạn văn phải sử dụng câu có thành phần biệt lập và phép lặp để liên kết. Đề yêu cầu thí sinh phải gạch dưới thành phần biệt lập và từ ngữ dùng làm phép lặp. Thí sinh phải đáp ứng đúng những yêu cầu nói trên. Riêng trong phần nội dung (tình cảm sâu nặng của bé Thu đối với cha), mỗi thí sinh có thể đưa ra những ý và dẫn chứng cụ thể khác nhau. Đây chỉ là một gợi ý : - Khi anh Sáu được phép về thăm nhà, trong suốt ba ngày đó, bé Thu vẫn nhất định không chịu gọi anh Sáu là ba(1). Nó chỉ gọi trổng(2). Anh Sáu nhẫn nhịn và cố gắng thể hiện tình cảm yêu thương của mình đối với nó(3). Trong bữa ăn anh đã gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó(4). Vậy mà nó đã cương quyết từ chối(5). Nó hất cái trứng ra làm cơm văng tung tóe cả mâm(6). Khi mẹ nó la rầy vì thái độ bất kính đó, nó đã giận dỗi bỏ bữa ăn, xuống xuồng qua nhà ngoại(7). Sáng hôm sau, hết phép, anh Sáu phải từ giã mọi người để trở về đơn vị(8). Anh không dám đến với nó, mặc dù anh rất muốn ôm con, hôn con nhưng sợ nó giẫy lên rồi bỏ chạy(9). Anh chỉ đứng nhìn nó với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu(10). Còn bé Thu đứng trong góc nhà với đôi mắt mênh mông, với tâm trạng xôn xao, bồn chồn(11). Ngay trong lúc bất ngờ nhất, lúc mọi người tưởng nó đứng yên, bé Thu đã kêu thét lên một tiếng "ba", tiếng kêu như một tiếng xé, xé cả ruột gan mọi người, một tiếng ba mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng ba như vỡ tung ra từ đáy lòng của nó(12). Nó vừa kêu vừa chạy tới, chạy thót lên, dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nórồi nói trong tiếng khóc(13). Nó hôn ba nó cùng khắp: hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa(14). Ôi, tình cảm của bé Thu đối với ba sâu nặng biết bao! (15) - Đoạn văn được viết theo lập luận quy nạp. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn : Ôi, tình cảm của bé Thu đối với ba sâu nặng biết bao! - Các từ ngữ thể hiện phép lặp : Anh Sáu ; nó ; bé Thu ; anh - Thành phần biệt lập : lúc mọi người tưởng nó đứng yên (đây là thành phần phụ chú, bổ nghĩa cho yếu tố đứng trước : "lúc bất ngờ nhất"). 4. Tên tác phẩm khác ở chương trình Ngữ Văn 9, trong đó có nhân vật người cha, vì chiến tranh xa cách, khi trở về, đứa con trai cũng hoài nghi, xa lánh : Người con gái Nam Xương. Tác phẩm có chi tiết nói về De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com thái độ của bé Đản đối với Trương Sinh: Trương Sinh bế bé Đản đi thăm mộ của mẹ Trương Sinh; đứa bé không chịu, quấy khóc. Trương Sinh dỗ dành thì nó nói : Ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít. Thí sinh có thể có những suy ngẫm khác nhau về bi kịch của chiến tranh. Tuy nhiên, đề thi chỉ yêu cầu viết không quá 5 dòng. Thí sinh phải ghi nhớ và đáp ứng điều đó. Sau đây chỉ là một gợi ý : - Từ cảnh ngộ của hai người cha trong hai tác phẩm, em nghĩ tới bi kịch nghiệt ngã mà con người phải hứng chịu vì chiến tranh. Người cha đã chịu mất mát, đau khổ khi chiến đấu, lúc trở về thì không được con chấp nhận. Có cố gắng biểu hiện yêu thương cũng bị từ chối. Chiến tranh mang đến nhiều mất mát, phi lí ngay cả trong tình phụ tử thiêng liêng. Từ đó, chúng ta thấm thía hậu quả quá lớn lao và khốc liệt mà chiến tranh đã mang đến cho con người. Phần II. (3 điểm) 1. Thành phần gọi - đáp trong những dòng thơ trên : Con ơi . 2. Việc dùng từ phủ định trong dòng thơ " Không bao giờ nhỏ bé được" nhằm khẳng định điều mong ước lớn lao của người cha đối với con : phải sống một cuộc sống cao đẹp cho xứng đáng với tư cách con người và với quê hương, không được sống thấp hèn dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. 3. Đề bài yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về cội nguồn của mỗi con người và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong tình hình đất nước hiện nay trong phạm vi khoảng nửa trang giấy thi. Thí sinh cần chú ý và đáp ứng đúng những yêu cầu về độ dài và nội dung nói trên. Mỗi thí sinh có thể triển khai và trình bày theo những hướng cụ thể khác nhau. Sau đây chỉ là một gợi ý : - Mỗi con người khi sinh ra, lớn lên đều có một cội nguồn rõ ràng, xác định. Cội nguồn đó là gia đình, dòng họ, quê hương, đất nước. "Quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi". - Cội nguồn là không gian sinh tồn và giúp cho sự hình thành, phát triển của mỗi một con người. Nó có tác động to lớn đến con người và giá trị, ý nghĩa đời sống của mỗi người. Vì vậy, mỗi người phải có trách nhiệm đối với nguồn cội của mình : tưởng nhớ tổ tiên, cội nguồn gia đình, dân tộc ; gắn bó, chia sẻ với gia đình, với đất nước những lúc khó khăn, gian khổ; biết yêu thương và hi sinh cho gia đình, đất nước, quê hương. - Đất nước Việt Nam ta hiện nay đang đứng trước thời cơ và những thách thức to lớn : giao lưu quốc tế rộng mở ; tạo nhiều điều kiện để đất nước hội nhập nhanh chóng với thời đại ; để hoàn thành việc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Nhưng hội nhập không bản lĩnh thì dễ dẫn đất nước đến chỗ bị hòa tan : văn hóa mất bản sắc dân tộc, kinh tế lệ thuộc, quốc phòng yếu kém dễ bị ngoại bang lấn lướt - Mỗi người hiện nay cần phải có ý thức rõ ràng về tình hình đất nước, với những thời cơ và thách thức để từ đó trong hoàn cảnh đất nước hòa bình, chấp hành luật pháp đầy đủ, tích cực học tập vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học góp phần xây dựng sự nghiệp dân giàu, nước mạnh để phát triển đất nước. Còn khi đất nước có chiến tranh, sẵn sàng hi sinh xương máu để chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc với một lòng yêu nước chân chính, sáng suốt, tỉnh táo và không bị chi phối bởi tư tưởng dân tộc cực đoan. - Đối với tuổi học sinh, chúng em sẽ tích cực học tập và rèn luyện, tu dưỡng bản thân, chăm ngoan, nghe lời dạy bảo của cha mẹ, thầy cô để là con ngoan trò giỏi và sau này khi trưởng thành sẽ là người công dân tốt, có ích cho xã hội. De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com ĐỀ SỐ 13 KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI Năm học 2013 - 2014 ĐỀ CHÍNH THỨC Môn thi: Ngữ văn Thời gian làm bài: 120 phút Phần I (6 điểm) Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải nguyện làm một con chim, một cành hoa và một nốt nhạc trầm để kết thành: "Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc." (Trích Ngữ văn 9, tập hai - NXB Giáo dục, 2012) 1. Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ được cấu tạo bởi những từ loại nào? Việc kết hợp các từ loại ấy có tác dụng gì? 2. Nốt nhạc trầm trong bài thơ có nét riêng gì? Điều đó góp phần thể hiện ước nguyện nào của tác giả? 3. Dựa vào khổ thơ trên, hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo cách lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp làm rõ tâm niệm của nhà thơ, trong đó có sử dụng câu bị động và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế). Phần II (4 điểm) Dưới đây là một phần trong lệnh truyền của vua Quang Trung với quân lính: "- Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (...) Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn." (Trích Ngữ văn 9, tập một - NXB Giáo dục, 2012) 1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? 2. Nhà vua nói "đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị" nhằm khẳng định điều gì? Hãy chép 2 câu trong bài thơ Sông núi nước Nam có nội dung tương tự. 3. Từ đoạn trích trên, với những hiểu biết xã hội, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về hình ảnh những người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng liêng của dân tộc. -----Hết----- De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com HƯỚNG DẪN CHẤM Phần I : 1. Nhan đề Mùa xuân nho nhỏ được cấu tạo bởi hai từ loại: “mùa xuân” là danh từ và “nho nhỏ” là tính từ. Việc kết hợp các từ loại ấy có tác dụng miêu tả rõ đặc điểm của danh từ (mùa xuân). 2. Nốt nhạc trầm theo nghĩa hiện thực là nốt nhạc có cao độ thấp. Trong bài thơ nó là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng để nói lên cái khát vọng muốn được khiêm tốn cống hiến cho cuộc đời. Đó là một khát vọng cao thượng và chân thành. 3. Câu hỏi yêu cầu thí sinh phải viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 câu theo cách lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp làm rõ tâm niệm của nhà thơ, trong đó có sử dụng câu bị động và phép thế (gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế). Thí sinh phải đáp ứng những yêu cầu căn bản nói trên: viết một đoạn văn nghị luận; khoảng 12 câu; theo cách lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp; nội dung làm rõ tâm niệm của nhà thơ Thanh Hải trong bốn câu thơ; câu văn phải có loại câu bị động và phép thế (chú ý phải gạch dưới câu bị động và những từ ngữ dùng làm phép thế). Mỗi thí sinh sẽ có nội dung cụ thể khác nhau, tuy nhiên đoạn văn phải đáp ứng những yêu cầu căn bản nói trên. Đây chỉ là một đoạn văn mang tính chất gợi ý tham khảo: (Sau khi đã chép bốn câu thơ trên) Câu một: Khổ thơ thể hiện tâm nguyện của nhà thơ muốn được cống hiến cho cuộc đời. Câu hai: Khát vọng đó được thể hiện qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ. Câu ba: Đó là một hình ảnh khái quát xuyên suốt bài thơ có ý nghĩa biểu hiện cái đẹp của thiên nhiên, đất nước và cuộc sống. Câu bốn: Trong khổ thơ này, mùa xuân được xây dựng thành hình ảnh ẩn dụ nói lên khát vọng cống hiến của nhà thơ cho cuộc đời. Câu năm: Ý thức rằng cá nhân chỉ là một phần tử nhỏ bé, nhà thơ mong ước mình là một mùa xuân nho nhỏ. Câu sáu: Hơn nữa, lại lặng lẽ dâng cho đời. Câu bảy: Khiêm tốn biết bao là ước nguyện cống hiến của nhà thơ Thanh Hải. Câu tám: Bởi lẽ, con người ta rất dễ trở nên tự đắc, tự kiêu trước những đóng góp của mình. Câu chín: Thông thường, người ta quan niệm còn trẻ còn làm việc, già thì nghỉ ngơi an hưởng. Câu mười: Thậm chí có khi còn đòi hỏi người khác phải phục vụ, phải tưởng nhớ cho những cống hiến của mình. Câu mười một : Nhưng nhà thơ Thanh Hải lại quan niệm hoàn toàn khác: Nhà thơ khao khát cống hiến không chỉ là lúc tuổi hai mươi mà cả khi tóc bạc. Câu mười hai: Cả khổ thơ là tâm nguyện chân thành cao đẹp của nhà thơ, là một lời nhắc nhở sâu sắc với mọi người về lẽ sống đáng để ghi nhớ và học tập. Phần II: 1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Tác giả là nhóm Ngô Gia Văn Phái, gồm có Ngô Thì Chí (1758-1788) và Ngô Thì Du (1772-1840). 2. Lời nói của nhà vua “Đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị” nhằm khẳng định chủ quyền của đất nước và kín đáo bày tỏ niềm tự hào về chủ quyền đất De-Thi.com Bộ đề tuyển sinh môn Văn vào 10 Hà Nội (Có lời giải) - De-Thi.com nước và sự bình đẳng giữa phương Bắc với phương Nam. Trong bài thơ Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt có hai câu mang nội dung tương tự: Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành đã định tại sách trời (Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư) 3. Câu hỏi yêu cầu thí sinh trình bày suy nghĩ về hình ảnh người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng liêng của dân tộc. Thí sinh có thể triển khai bài viết theo nhiều cách khác nhau. Sau đây chỉ là một số gợi ý để tham khảo : - Việt Nam là một quốc gia nằm ven biển. Lãnh thổ bao gồm đất liền và rất nhiều hải đảo. Bên cạnh những người chiến sĩ bảo vệ chủ quyền của đất nước trên đất liền, trên không, chúng ta không thể không nghĩ tới những người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng liêng của dân tộc. - Các anh là những người sống trong một khung cảnh có nhiều khó khăn gian khổ: sống giữa biển khơi, đầy nắng gió, thường xuyên gặp phải bão tố, - Cuộc sống của các anh thiếu thốn phương tiện so với người dân ở đất liền: thiếu nước ngọt, thiếu sách báo, - Xa gia đình, xa người thân nên nhiều khi phải trải qua những nỗi buồn da diết vì nhớ nhà, - Tuy đầy gian khổ và khó khăn nhưng những điều này không làm mềm đi ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền tổ quốc, bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân, nhất là những ngư dân trên biển cả. - Đất nước được toàn vẹn, cuộc sống vẫn phát triển bình thường, hàng ngày các em được bình yên đến trường, bữa cơm mỗi ngày không thiếu những sản phẩm của biển cả, nhờ có một phần không nhỏ công sức và sự hy sinh thầm lặng của các anh. - Hình ảnh của các anh chiến sĩ ngoài biển đảo là những hình ảnh hào hùng ẩn chứa vẻ đẹp của sự hy sinh vì nghĩa lớn. De-Thi.com
File đính kèm:
bo_de_tuyen_sinh_mon_van_vao_10_ha_noi_co_loi_giai.docx

